Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hội nhập Kinh tế Quốc tế và tổng quan về WTO Chương 2: Phân tích tác động của WTO đến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Việt Nam. Chương 3: Một số khuyến nghị cho Việt Nam để tiếp tục phát huy những cơ hội mà WTO mang lại. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ TỔNG QUAN VỀ WTO 1. Một số vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế 1.
Khái niệm Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế vận động tất yếu của các nền kinh tế trên thế giới trong điều kiện hiện nay khi quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá và quốc tế hoá đang diễn ra nhanh chóng dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Hội nhập kinh tế quốc tế là một thuật ngữ đã xuất hiện từ lâu trong vài thập kỷ gần đây. Nhưng cho đến hiện nay vẫn còn nhiều các quan điểm khác nhau về hội nhập kinh tế quốc tế, - Theo Đỗ Đức Bình (2013, tr.52) cho rằng “Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia tăng cường giao lưu hợp tác một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, tuỳ thuộc và chi phối nhau.” Thực chất, hội nhập kinh tế quốc tế là việc các quốc gia thực hiện mô hình kinh tế mở, tự nguyện tham gia các định chế kinh tế quốc tế; tự do hoá thương mại và đầu tư; tự do di chuyển tài chính, tiền tệ quốc tế.để tiến tới hình thành thị trường thế giới thống nhất; một hệ thống tài chính, tiền tệ, tín dụng toàn cầu; là việc giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội, khoa học công nghệ có tính chất toàn cầu. - "Từ điển bách khoa Việt Nam" (Nxb.
Từ điển bách khoa Việt Nam, 2002, t.384) giải thích: "Hội nhập - sự liên kết các nền kinh tế với nhau. Các nền kinh tế khác nhau thực hiện sự hội nhập thông qua hoạt động mậu dịch và hợp tác chính sách và biện pháp kinh tế". - Theo Nguyễn Xuân Thắng (Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đối với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Sđd, tr.23), "Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình liên kết kinh tế có mục tiêu, định hướng cụ thể gắn với phạm vi, cấp độ cũng như điều kiện cụ thể của mỗi nước". - Theo Mai Lan Hương (2012, tr.18) cho rằng có thể hiểu “Hội nhập kinh tế là quá trình các quốc gia gắn kết nền kinh tế của nước mình với kinh tế khu vực và thế giới bằng các nỗ lực thực hiện tự do hóa kinh tế, mở cửa kinh tế trên các cấp độ đơn phương, song phương; đa phương và giảm thiểu sự khác biệt để trở thành một bộ phận hợp thành của chỉnh thể kinh tế toàn cầu.” Như vậy, nội hàm của khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm những điểm chủ yếu sau: + Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình liên kết nền kinh tế và thị trường của mỗi quốc gia với nền kinh tế khu vực và thế giới; 3 Thư viện ĐH Thăng Long + Mỗi quốc gia tự nguyện tham gia vào các định chế/ tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu, thực hiện các cam kết với các tổ chức mà mình tham gia; + Mỗi quốc gia phải thực hiện tự do hóa nền kinh tế, tự do hóa thương mại, đầu tư, tài chính với các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương.
Bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế Về bản chất, hội nhập kinh tế quốc tế được thể hiện chủ yếu ở một số mặt sau đây: - Hội nhập kinh tế quốc tế là sự đan xen, gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền quốc gia và nền kinh tế thế giới. Nó là quá trình vừa hợp tác để phát triển, vừa đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt là đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ lợi ích của mình, vì một trật tự công bằng, chống lại những áp đặt phi lý của các cường quốc kinh tế. - Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình xoá bỏ từng bước và từng thành phần các rào cản về thương mại và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hoá kinh tế. - Hội nhập kinh tế quốc tế một mặt tạo điều kiện thuận lợi mới cho các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, mặt khác buộc các doanh nghiệp phải có những đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường.
- Hội nhập kinh tế quốc tế tạo thuận lợi cho việc thực hiện các công cuộc cải cách ở các quốc gia nhưng đồng thời cũng là yêu cầu, sức ép đối với các quốc gia trong việc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế, đặc biệt là các chính sách và phương thức quản lý vĩ mô. - Hội nhập kinh tế quốc tế chính là tạo dựng các nhân tố mới và điều kiện mới cho sự phát triển của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế trên cơ sở trình độ phát triển ngày càng cao và hiện đại của lực lượng sản xuất. - Hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự khơi thông các dòng chảy nguồn lực trong và ngoài nước, tạo điều kiện mở rộng thị trường chuyển giao công nghệ và các kinh nghiệm quản lý. Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế được các quốc gia/vùng lãnh thổ thực hiện bằng những phương thức chủ yếu đó là: Khu mậu dịch tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh tiền tệ và liên minh kinh tế.
- Thứ nhất, khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area): Đây là một hình thức liên kết kinh tế mà các thành viên cùng nhau thoả thuận thống nhất một số vấn đề nhằm mục đích tự do hoá trong buôn bán về một hoặc một số mặt hàng/nhóm mặt hàng nào đó. Các thoả thuận đó là: 4 + Giảm hoặc xóa bỏ hàng rào thuế quan và các biện pháp hạn chế số lượng đối với một phần các loại sản phẩm và dịch vụ khi buôn bán với nhau. + Tiến tới tạo lập một thị trường thống nhất về hàng hoá và dịch vụ + Mỗi thành viên trong khối vẫn có quyền độc lập tự chủ trong quan hệ buôn bán với các quốc gia ngoài khối, tức là mỗi thành viên có thể có chính sách ngoại thương riêng đối với các quốc gia ngoài khối (các quốc gia ngoài liên minh). Ví dụ, hiện nay các liên kết như hiệp định thương mại nội khối Asean AFTA (Asean Free Trade Area), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Chile, hoặc một nhóm các quốc gia/vùng lãnh thổ như Hiệp định thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Úc và Niu Dilân, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU… Việc thành lập khu vực mậu dịch tự do nhằm thúc đẩy thương mại giữa các nước thành viên.
Theo đó, các thành viên đồng ý để loại trừ thuế quan, hạn ngạch và ưu đãi khác trong thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và các lĩnh vực khác liên quan giữa các quốc gia/vùng lãnh thổ trong nhóm. Các thành viên tham gia khu vực mậu dịch tự do cam kết giảm thiểu thuế quan cho nhau, thậm chí có lĩnh vực loại bỏ hạn ngạch thuế quan (thuế bằng không). Hàng rào phi thuế quan (cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu, hạn ngạch – côta…) cũng được giảm bớt hoặc loại bỏ hoàn toàn. Hàng hoá và dịch vụ được di chuyển tự do giữa các quốc gia/vùng lãnh thổ của các thành viên.
Xu thế thành lập khu vực mậu dịch tự do đang là phổ biến hiện nay. - Thứ hai, liên minh thuế quan hay đồng minh thuế quan (Customs Union): Đây là liên minh quốc tế nhằm tăng cường hơn nữa mức độ hợp tác giữa các nước thành viên. Theo thoả thuận hợp tác này, các quốc gia trong liên minh bên cạnh việc xoá bỏ thuế quan và những hạn chế về mậu dịch khác giữa các quốc gia thành viên, họ còn thiết lập một biểu thuế quan chung của khối đối với các quốc gia ngoài liên minh, tức là phải thực hiện chính sách cân đối mậu dịch với các nước không phải là thành viên đã trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách mậu dịch nói chung đối với các nước không phải thành viên. Ví dụ, Cộng đồng kinh tế Châu Âu ở thời kỳ trước 1992; Cộng đồng các quốc gia vùng Andes (CAN) - một liên minh thuế quan gồm các thành viên là: Bôlivia, Côlômbia, Êcuađo và Peru hay Liên minh kinh tế Á – Âu (gồm Liên bang Nga - Belarus - Cadắcxtan - Tatgikixtan - Armenia).
Việc thành lập liên minh thuế quan cho phép tránh được những phức tạp liên quan đến quy tắc xuất xứ, nhưng lại làm nảy sinh những khó khăn trong phối hợp chính sách giữa các nước thành viên. - Thứ ba, thị trường chung (Common Market): 5 Thư viện ĐH Thăng Long Đây là liên kết quốc tế ở mức độ cao hơn liên minh thuế quan, ở mức độ liên kết này, các thành viên ngoài việc áp dụng các biện pháp tương tự như Liên minh thuế quan trong trao đổi thương mại, các thành viên còn thoả thuận và cho phép: tư bản và lực lượng lao động được tự do di chuyển giữa các nước thành viên thông qua từng bước hình thành thị trường thống nhất. Một thị trường chung như vậy đã từng được thành lập ở châu Âu vào năm 1957 theo Hiệp ước Rôme (gồm Cộng hòa Liên bang Đức, I-ta-li-a, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Lúc Xăm Bua), có hiệu lực từ ngày 01/01/1958 và sau đó, thêm một số nước: Anh, Đan Mạch, Alien (1973), Hy Lạp (1981), Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha (1986) hoặc Thị trường chung Đông và Nam Phi thành lập vào năm 1994. Khối ASEAN cũng đã tuyên bố hình thành Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột là Cộng đồng chính trị - an ninh, Cộng đồng kinh tế và Cộng đồng văn hóa – xã hội.
Đối với Cộng đồng kinh tế ASEAN, mục tiêu chính là nhằm hình thành một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và có khả năng cạnh tranh cao, trong đó hành hóa, dịch vụ, đầu tư sẽ được chu chuyển tự do và vốn được lưu chuyển tự do hơn, kinh tế phát triển đồng đều. Thực chất, xét ở khía cạnh này, đây là những nội dung cơ bản của một thị trường chung. - Thứ tư, liên minh tiền tệ (Monetary Union): Đây là một hình thức liên kết kinh tế tiến tới phải thành lập một Liên minh kinh tế - “quốc gia kinh tế chung” có nhiều nước tham gia với những đặc trưng sau: + Xây dựng chính sách thương mại chung.