Đánh Giá Kỹ Thuật Xpert MTB/XDR Phát Hiện Lao Kháng Thuốc Tại Viện Phổi Trung Ương

Luận văn đánh giá kỹ thuật Xpert MTB/XDR trong phát hiện lao kháng thuốc tại Viện Phổi Trung ương, góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

51
6
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đặc điểm vi khuẩn lao

1.2. Đặc điểm hình thể

1.3. Tính chất nuôi cấy

1.4. Sức đề kháng

1.5. Khả năng và cơ chế gây bệnh

1.6. Tổng quan về bệnh lao kháng thuốc

1.7. Phân loại bệnh lao kháng thuốc

1.8. Các loại thuốc kháng lao

1.9. Tình hình bệnh lao kháng thuốc trên thế giới

1.10. Tình hình bệnh lao kháng thuốc tại Việt Nam

1.11. Gen đột biến kháng thuốc đối với Mycobacterium Tuberculosis

1.12. Kháng Rifampicin

1.13. Kháng Isoniazid

1.14. Kháng Ethambutol

1.15. Kháng Pyrazinamid

1.16. Kháng Levofloxacin và moxifloxacin

1.17. Bedaquiline và clofazimine

1.18. Kháng Linezolid

1.19. Kháng Delamanid

1.20. Kháng Amikacin

1.21. Kháng Streptomycin

1.22. Kháng Ethionamid

1.23. Các kỹ thuật chẩn đoán lao kháng thuốc

1.23.1. Kỹ thuật Kháng sinh đồ phát hiện lao kháng thuốc trên môi trường lỏng bằng hệ thống Bactec - MGIT

1.23.2. Kỹ thuật xét nghiệm Xpert MTB/Rif phát hiện lao kháng Rifampicin

1.23.3. Kỹ thuật xét nghiệm Line Probe Assay (LPA) để phát hiện kiểu gen MTB kháng thuốc

1.23.4. Kỹ thuật xét nghiệm Xpert MTB/XDR

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu và thu thập số liệu

2.5.1. Thiết kế nghiên cứu

2.5.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

2.5.3. Công cụ thu thập số liệu

2.5.4. Các biến số nghiên cứu

2.5.5. Thu thập và xử lý số liệu

2.5.6. Nội dung nghiên cứu - các kỹ thuật thực hiện

2.5.7. Sơ đồ phương pháp nghiên cứu

2.5.8. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: ĐỘ NHẠY VÀ ĐỘ ĐẶC HIỆU CỦA XÉT NGHIỆM XPERT MTB/XDR TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG

3.1. Độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm Xpert MTB/XDR đối với tính kháng thuốc Isoniazid

3.2. Độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm Xpert MTB/XDR đối với tính kháng nhóm thuốc Fluoroquinolon

3.3. Độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm Xpert MTB/XDR đối với tính kháng nhóm thuốc tiêm hàng 2 (Amikacin, Capreomycin, Kanamicin)

3.4. Độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm MTB siêu kháng LPA so với phương pháp phát hiện kiểu hình Kháng sinh đồ lỏng

3.5. Độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm LPA đối với tính kháng thuốc Isoniazid

3.6. Độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm LPA đối với tính kháng nhóm thuốc Fluoroquinolon

3.7. Độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm LPA đối với tính kháng nhóm thuốc tiêm hàng 2 (Amikacin, Capreomycin, Kanamicin)

3.8. So sánh độ chính xác của xét nghiệm Xpert MTB/XDR với xét nghiệm MTB siêu kháng LPA

4. CHƯƠNG 4: ĐỘ NHẠY, ĐỘ ĐẶC HIỆU CỦA XÉT NGHIỆM XPERT MTB/XDR TẠI VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG

4.1. So sánh độ nhạy, độ đặc hiệu của xét nghiệm Xpert MTB/XDR với kỹ thuật phân tử MTB LPA

4.2. Ý nghĩa thực tiễn của bài nghiên cứu

4.3. Độ nhạy, độ đặc hiệu của xét nghiệm Xpert MTB/XDR khi lấy phương pháp kháng sinh đồ lỏng làm phương pháp đối chiếu

4.4. So sánh giá trị của xét nghiệm Xpert MTB/XDR so với phương pháp MTB siêu kháng LPA

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Kỹ Thuật Xpert MTB XDR Phát Hiện Lao Kháng Thuốc

Kỹ thuật Xpert MTB/XDR là một trong những phương pháp tiên tiến nhất hiện nay trong việc phát hiện bệnh lao kháng thuốc. Phương pháp này không chỉ giúp xác định sự hiện diện của Mycobacterium tuberculosis mà còn phát hiện các chủng lao kháng thuốc, đặc biệt là lao siêu kháng thuốc (XDR-TB). Việc áp dụng kỹ thuật này tại Viện Phổi Trung Ương đã mở ra hướng đi mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh lao kháng thuốc, giúp nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu tỷ lệ tử vong.

1.1. Đặc Điểm Của Kỹ Thuật Xpert MTB XDR

Kỹ thuật Xpert MTB/XDR sử dụng công nghệ khuếch đại axit nucleic để phát hiện vi khuẩn lao và các gen kháng thuốc. Phương pháp này cho kết quả nhanh chóng, chỉ trong vòng 90 phút, giúp bác sĩ có thể đưa ra quyết định điều trị kịp thời.

1.2. Lợi Ích Của Việc Áp Dụng Xpert MTB XDR

Việc áp dụng kỹ thuật Xpert MTB/XDR tại Viện Phổi Trung Ương không chỉ giúp phát hiện nhanh chóng bệnh lao kháng thuốc mà còn giảm thiểu thời gian chờ đợi kết quả xét nghiệm, từ đó nâng cao khả năng điều trị hiệu quả cho bệnh nhân.

II. Vấn Đề Lao Kháng Thuốc Tại Việt Nam Hiện Nay

Bệnh lao kháng thuốc đang trở thành một thách thức lớn đối với hệ thống y tế tại Việt Nam. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ bệnh nhân mắc lao kháng thuốc ngày càng gia tăng, đặc biệt là lao đa kháng (MDR-TB) và lao siêu kháng (XDR-TB). Việc phát hiện và điều trị kịp thời là rất cần thiết để ngăn chặn sự lây lan của bệnh.

2.1. Tình Hình Bệnh Lao Kháng Thuốc Tại Việt Nam

Theo thống kê, Việt Nam có tỷ lệ bệnh nhân lao kháng thuốc cao, với hàng ngàn ca mắc mới mỗi năm. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc cải thiện các phương pháp chẩn đoán và điều trị.

2.2. Thách Thức Trong Việc Chẩn Đoán Lao Kháng Thuốc

Một trong những thách thức lớn trong việc chẩn đoán lao kháng thuốc là thiếu hụt các phương pháp xét nghiệm nhanh và chính xác. Điều này dẫn đến việc nhiều bệnh nhân không được phát hiện kịp thời, làm gia tăng tỷ lệ tử vong.

III. Phương Pháp Đánh Giá Kỹ Thuật Xpert MTB XDR Tại Viện Phổi Trung Ương

Để đánh giá hiệu quả của kỹ thuật Xpert MTB/XDR, Viện Phổi Trung Ương đã tiến hành một nghiên cứu với sự tham gia của nhiều bệnh nhân. Nghiên cứu này nhằm so sánh độ nhạy và độ đặc hiệu của kỹ thuật này với các phương pháp xét nghiệm khác như kháng sinh đồ lỏng.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp hồi cứu, thu thập dữ liệu từ các bệnh nhân đã được chẩn đoán lao kháng thuốc tại Viện Phổi Trung Ương. Các thông số như độ nhạy, độ đặc hiệu sẽ được phân tích để đưa ra kết luận.

3.2. Phân Tích Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy kỹ thuật Xpert MTB/XDR có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn so với các phương pháp truyền thống, từ đó khẳng định giá trị của kỹ thuật này trong chẩn đoán lao kháng thuốc.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Kỹ Thuật Xpert MTB XDR

Kỹ thuật Xpert MTB/XDR không chỉ được áp dụng trong chẩn đoán mà còn có thể được sử dụng để theo dõi hiệu quả điều trị bệnh lao kháng thuốc. Việc này giúp bác sĩ có thể điều chỉnh phác đồ điều trị kịp thời, nâng cao khả năng hồi phục cho bệnh nhân.

4.1. Theo Dõi Hiệu Quả Điều Trị

Kỹ thuật Xpert MTB/XDR cho phép theo dõi sự thay đổi của vi khuẩn lao trong quá trình điều trị, từ đó giúp bác sĩ có thể điều chỉnh phác đồ điều trị phù hợp.

4.2. Giảm Thiểu Tỷ Lệ Tử Vong

Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh lao kháng thuốc thông qua kỹ thuật Xpert MTB/XDR đã giúp giảm thiểu tỷ lệ tử vong do bệnh lao, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng.

V. Kết Luận Về Kỹ Thuật Xpert MTB XDR Trong Chẩn Đoán Lao Kháng Thuốc

Kỹ thuật Xpert MTB/XDR đã chứng minh được hiệu quả trong việc phát hiện bệnh lao kháng thuốc tại Viện Phổi Trung Ương. Việc áp dụng kỹ thuật này không chỉ giúp nâng cao chất lượng chẩn đoán mà còn góp phần vào việc cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

5.1. Tương Lai Của Kỹ Thuật Xpert MTB XDR

Trong tương lai, kỹ thuật Xpert MTB/XDR có thể được mở rộng áp dụng tại nhiều cơ sở y tế khác nhau, giúp nâng cao khả năng phát hiện và điều trị bệnh lao kháng thuốc trên toàn quốc.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Các Cơ Sở Y Tế

Các cơ sở y tế cần xem xét việc áp dụng kỹ thuật Xpert MTB/XDR vào quy trình chẩn đoán bệnh lao kháng thuốc, nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu tỷ lệ tử vong.

14/07/2025
Luận văn đánh giá kỹ thuật xpert mtb xdr phát hiện lao kháng thuốc tại viện phổi trung ương

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho cuộc chiến chống lao trên toàn cầu. Đặc điểm hình thể: Vi khuẩn lao là những trực khuẩn mảnh, kích thước khoảng 0,5 x 2-5 µm, đứng riêng lẻ hoặc xếp thành hình chữ N, Y, V hoặc thành dãy phân nhánh như cành cây. Ở môi trường nuôi cấy nó có thể biến thành hình sợi. tuberculosis không di động, không sinh bào tử, khó bắt màu với các thuốc nhuộm thông thường.

Khi nhuộm Zielh - Neelsen, vi khuẩn lao bắt màu đỏ, có khi thấy những hạt đỏ bên trong tế bào vi khuẩn [6], [7]. Tính chất nuôi cấy M. tuberculosis hiếu khí và phát triển tốt nhất ở 37°C và pH thích nghi từ 6,7 - 7. Chúng phát triển rất chậm và thường mất 1 - 2 tháng để hình thành khuẩn lạc trên môi trường.

tuberculosis tạo thành các khuẩn lạc loại R trên môi trường rắn Loeweinstein (bao gồm chủ yếu là khoai tây, huyết thanh và asparagin) khô nhăn nheo giống như hoa súp lơ và mọc thành váng và lắng cặn trong môi trường Sauton (môi trường tổng hợp) [6], [7]. Sức đề kháng So với các vi khuẩn không sinh nha bào khác thì vi khuẩn lao có khả năng đề kháng cao đối với các yếu tố lý hóa (nhiệt, tia cực tím, phenol) hay bằng phương pháp khử trùng Pasteur (đun nóng 62°C trong 30 phút) [6], [7], [9]. Trang 1 Vi khuẩn lao đề kháng ở môi trường khô (ngoài ánh sáng mặt trời vi khuẩn chết sau 1 - 2 giờ), các chất sát khuẩn như crezyl, nước javel, cồn iod giết chết vi khuẩn sau 2 - 5 giờ [6], [7], [9]. Ở điều kiện ẩm, thiếu asnh sáng như đờm ẩm, vi khuẩn lao có thể sống đến 1 tháng; trong sữa chúng có thể sống đến vài tuần [6], [7], [9].

Với kháng sinh và hóa trị liệu, trực khuẩn lao ngày càng kháng lại nhiều loại thuốc kháng sinh như rifampicin, streptomycin, ethambutol, INH,…[7]. tuberculosis thuộc giới Bacteria; ngành Actinobacteria; bộ Actinomycetales; họ Mycobacteriaceae, giống Mycobacterium. Mycobacteria được biết đến như một loại trực khuẩn kháng cồn, kháng acid (viết tắt là AFB: acid fast bacilli). Kháng axit - cồn ở 2 điểm: không bị axit - cồn giết chết ở nồng độ tiêu diệt vi khuẩn khác, và không bị tẩy trắng bằng cồn - axit trong quá trình nhuộm.

Tuberculosis complex gây bệnh lao ở người bao gồm: M. africanum, và gần đây là M. Khả năng và cơ chế gây bệnh Khả năng gây bệnh của vi khuẩn lao phụ thuộc vào độc lực của vi khuẩn lao và khả năng đề kháng của từng cơ thể. Cơ chế gây bệnh: M.

tuberculosis thường xâm nhập vào đường hô hấp qua các giọt nước bọt và gây bệnh lao phổi (90% tổng số bệnh lao). Các mô phế nang bị vi khuẩn xâm nhập tạo ra các ổ chứa vi khuẩn, sau đó đến các hạch lympho lân cận rồi đến các mô khác. Chúng vẫn có thể xâm nhập vào đường tiêu hóa (qua sữa bò tươi) và gây bệnh lao dạ dày, ruột. Bệnh lao hạch là căn bệnh phổ biến thứ hai sau bệnh lao phổi.

Ngoài ra vi khuẩn lao còn xâm nhập vào cơ thể qua da, giác mạc và sinh dục nhưng rất hy hữu [6], [7]. Lần nhiễm lao đầu tiên được gọi là lần sơ nhiễm. Vi khuẩn lao xâm nhập lần đầu tiên vào cơ thể gây nên tổn thương ngoại vi ở phần thông khí. Khi cơ thể trở nên quá mẫn trong 2 - 4 tuần kể từ khi tổn thương dạng hạt xuất hiện và hạt lao điển hình được hình thành.

Khoảng 90% trường hợp nhiễm lao nguyên phát khỏi và để lại khả năng miễn dịch với vi khuẩn lao [6], [7]. Trang 2 Từ 5 - 15% trường hợp nhiễm lao nguyên phát triển thành bệnh, hoặc do không được điều trị và giảm sức đề kháng, hoặc từ bệnh lao nguyên phát vài năm sau khi nhiễm bệnh lao. Phần lớn nguyên nhân là do sự hoạt động lại của ổ bệnh cũ khi bị lao sơ nhiễm. Những ổ bệnh thường khu trú ở phần dưới hoặc phần đỉnh hay đỉnh phổi do sự nhiễm trùng dai dẳng.

Khi bệnh được phát hiện thì hầu như tổn thương bã đậu đã hóa lỏng và hang lao hình thành, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn lao phát tán, lây truyền bệnh nhanh chóng qua đờm dãi, nước bọt [6], [7]. Từ cơ quan ban đầu có lao (phổi, ruột .), trực khuẩn lao theo máu và bạch huyết đến tất cả các cơ quan và gây lao ở các bộ phận khác nhau của cơ thể (lao nốt, viêm não màng não, lao thận, xương. Cơ chế bệnh sinh của bệnh lao phổi vẫn chưa được hiểu đầy đủ. Vi khuẩn này không có nội độc tố hoặc ngoại độc tố.

Các yếu tố độc lực của M. tuberculosis chưa được xác định. Nhưng có thể đó là sự kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó yếu tố sợi (cord factor) và lớp sáp của vách tế bào Bacillus là rất quan trọng. Các chủng vi khuẩn lao có độc lực chứa nhiều thành phần dạng sợi về mặt hóa học là 6,6' - dimycolyl trehalose.

Yếu tố sợi này làm cho vi khuẩn lao dính vào nhau tạo thành các bó sợi. Vi khuẩn lao sẽ giảm độc lực khi mất yếu tố sợi này [7]. Tổng quan về bệnh lao kháng thuốc Về vi sinh, vi khuẩn lao kháng thuốc do sự đột biến gen trong nhân tế bào vi khuẩn lao làm cho một hoặc nhiều loại thuốc điều trị bệnh bị mất hiệu lực [10]. Về quản lý và sử dụng thuốc, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng kháng thuốc trong điều trị lao, bao gồm: bác sĩ (kê đơn không đúng phác đồ, thiếu sự theo dõi, đánh giá), quản lý cung ứng (thiếu thuốc, thuốc kém chất lượng.

Phân loại bệnh lao kháng thuốc Lao đơn kháng:  Lao kháng Rifampicin (RR-TB): Bệnh lao gây ra bởi M. Tuberculosis complex kháng Rifampicin. Các chủng này có thể nhạy cảm hoặc kháng với isoniazid;  Lao kháng Isoniazid đơn (Hr-TB): Bệnh lao gây ra bởi M. Tuberculosis complex kháng Isoniazid nhưng nhạy cảm với Rifampicin.

Lao đa kháng thuốc (MDR - TB): Bệnh lao gây ra bởi M. Tuberculosis complex kháng Rifampicin và kháng Isoniazid [3] Trang 3 Lao tiền siêu kháng (pre XDR - TB): Bệnh lao gây ra bởi M. Tuberculosis complex kháng Rifampicin (và cũng có thể kháng isoniazid), kháng ít nhất một loại fluoroquinolone (levofloxacin hoặc moxifloxacin) [3] Lao siêu kháng (XDR - TB): Bệnh lao gây ra bởi M. Tuberculosis complex kháng Rifampicin (và cũng có thể kháng isoniazid), kháng ít nhất một loại fluoroquinolone (levofloxacin hoặc moxifloxacin) và ít nhất 1 loại thuốc “Nhóm A” khác (bedaquiline hoặc linezolid) [3] 2.

Các loại thuốc kháng lao Đáp ứng với tình hình nhiều loại thuốc điều trị lao được điều chế và đánh giá đưa vào phác đồ điều trị lao những năm gần đây, Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra phân loại thuốc lao cập nhật gần đây như sau:  Thuốc chống lao hàng 1: Isoniazid (INH), Rifampicin (RIF), Ethambutol (EMB), Pyrazinamide (PZA) [3], [11];  Thuốc lao “Nhóm A”: Levofloxacin hoặc Moxifloxacin;edaquiline; Linezolid [3];  Thuốc lao “Nhóm B”: Clofazimine; Cycloserine hoặc Terizidone [3];  Thuốc lao “Nhóm C”: Ethambutol; Delamanid; Pyrazinamide; Imipenem-cilastatin hoặc Meropenem; Amikacin hoặc Streptomycin; Ethionamide hoặc Prothionamide; p-aminosalicylic acid [3]. Tình hình bệnh lao kháng thuốc trên thế giới Trên toàn cầu vào năm 2020, 71% (2,1/3,0 triệu người) được chẩn đoán mắc bệnh lao phổi xác nhận về mặt vi khuẩn học và được xét nghiệm để tìm kháng rifampicin, tăng từ 61% (1,7/3,4 triệu người) năm 2019 lên 71% (2,2/3,6 triệu người) năm 2020. Trong số này, 132222 trường hợp MDR/RR - TB và 25681 trường hợp tiền sử XDR - TB hoặc XDR - TB đã được phát hiện, tổng cộng lại là 157903. Đây là một sự sụt giảm lớn (22%) so với tổng số 201997 người được phát hiện mắc lao kháng thuốc trong năm 2019, phù hợp với mức giảm lớn tương tự trong tổng số người mới được chẩn đoán Lao (18%) và tổng số người được chẩn đoán mắc lao phổi được xác nhận bằng vi khuẩn (17%) được quan sát từ năm 2019 đến năm 2020.

Trên toàn thế giới, 150359 người mắc bệnh lao đa kháng thuốc/RR - TB đã được đăng ký điều trị vào năm 2020, giảm 15% so với tổng cộng 177100 vào năm 2019. Mức độ này tương đương với khoảng 1/3 trong số những người phát triển MDR /RR - TB mỗi năm [2]. Số người toàn cầu được báo cáo là đã được đăng ký điều trị MDR/RR- TB, 2015–2020 [2] Đến năm 2021 theo báo cáo bệnh lao từ tổ chức Thế giới WHO, số ca được chẩn đoán mắc lao phổi được xét nghiệm kháng rifampicin, cùng mức độ bao phủ như năm 2020 (2,1/3,0 triệu) [1]. Trong số những người được xét nghiệm, 141953 trường hợp MDR/RR - TB và 25038 trường hợp tiền XDR - TB hoặc XDR - TB đã được phát hiện, tổng cộng là 166991[1].

Đây là mức tăng (6,4%) từ tổng số 156982 vào năm 2020, nhưng thấp hơn mức tăng 9,7% trong tổng số người được chẩn đoán và báo cáo mắc bệnh lao từ năm 2020 đến năm 2021 [1]. Nó cũng vẫn được xem xét thấp hơn đáng kể (17%) so với tổng số 201997 vào năm 2019 [1]. Trên toàn thế giới, có 161746 người mắc MDR/RR-TB được đăng ký điều trị vào năm 2021, tăng 7,5% so với 150469 vào năm 2020 nhưng vẫn thấp hơn đáng kể (11%) so với tổng số 181. Mức độ ghi danh này tương đương với khoảng một phần ba số người phát triển MDR/RRTB mỗi năm.

Có 10 quốc gia chiếm khoảng 70% có sự khác biệt đáng kể về phạm vi xét nghiệm lao RR-TB giữa các quốc gia vào năm 2021 [1]. Trong số 30 quốc gia có gánh nặng MDR/RR-TB cao thì 20 quốc gia đạt tỷ lệ xét nghiệm hơn 80%: Azerbaijan, Belarus, Trung Quốc, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Mông Cổ, Mozambique, Myanmar, Pakistan, Peru, Philippines, Cộng hòa Moldova, Liên bang Nga, Nam Phi, Tajikistan, Ukraine, Uzbekistan, Việt Nam, Zambia và Zimbabwe; tương đương với khoảng một phần ba số người phát triển MDR/RRTB mỗi năm [1]. Hầu hết những người được điều trị dự phòng bệnh lao cho đến nay đều là những người nhiễm HIV. Những thành tựu đáng kể trong phạm vi điều trị ở cấp độ toàn cầu đòi hỏi nỗ lực cải Trang 5 thiện xét nghiệm và chẩn đoán DR-TB cũng như khả năng tiếp cận điều trị ở những quốc gia này.

Tích cực hơn, tỷ lệ điều trị thành công đối với MDR/RR-TB đã được cải thiện. Trên toàn cầu vào năm 2019 (nhóm bệnh nhân mới nhất có dữ liệu), tỷ lệ điều trị thành công là 60%, phản ánh sự cải thiện ổn định trong những năm gần đây từ mức 50% vào năm 2012 [1]. Trong số các khu vực của WHO, tỷ lệ điều trị thành công năm 2019 dao động từ 57% ở Châu Âu đến 72% ở Đông Địa Trung Hải[1]. Đến cuối năm 2021, 124 quốc gia đã sử dụng bedaquiline như một phần của chế độ điều trị bệnh Lao DR (tăng từ 110 quốc gia vào năm 2020) [1].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Đánh Giá Kỹ Thuật Xpert MTB/XDR Phát Hiện Lao Kháng Thuốc Tại Viện Phổi Trung Ương" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc áp dụng kỹ thuật Xpert MTB/XDR trong việc phát hiện lao kháng thuốc. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chẩn đoán sớm và chính xác để cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân lao. Bằng cách sử dụng công nghệ tiên tiến, nghiên cứu này không chỉ giúp phát hiện nhanh chóng các chủng lao kháng thuốc mà còn góp phần nâng cao hiệu quả trong việc quản lý và điều trị bệnh.

Để mở rộng kiến thức của bạn về vấn đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Thực trạng phát hiện chẩn đoán điều trị bệnh lao kháng đa thuốc tại Hà Nội (2011-2014)", nơi cung cấp thông tin chi tiết về tình hình chẩn đoán và điều trị lao kháng thuốc trong giai đoạn trước. Bên cạnh đó, tài liệu "Nghiên cứu tình hình và đánh giá kết quả điều trị lao phổi AFB đa kháng thuốc tại thành phố Thủ Đức (2019-2022)" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về kết quả điều trị lao kháng thuốc trong bối cảnh hiện tại. Cuối cùng, tài liệu "Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc chống lao trên bệnh nhân lao phổi tại BV Lao Bệnh Phổi TP Cần Thơ năm 2013" cũng là một nguồn tài liệu quý giá để tìm hiểu về việc sử dụng thuốc trong điều trị lao. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về tình hình và các phương pháp điều trị lao kháng thuốc hiện nay.