mở đầu cho cuộc chiến chống lao trên toàn cầu. Đặc điểm hình thể: Vi khuẩn lao là những trực khuẩn mảnh, kích thước khoảng 0,5 x 2-5 µm, đứng riêng lẻ hoặc xếp thành hình chữ N, Y, V hoặc thành dãy phân nhánh như cành cây. Ở môi trường nuôi cấy nó có thể biến thành hình sợi. tuberculosis không di động, không sinh bào tử, khó bắt màu với các thuốc nhuộm thông thường.
Khi nhuộm Zielh - Neelsen, vi khuẩn lao bắt màu đỏ, có khi thấy những hạt đỏ bên trong tế bào vi khuẩn [6], [7]. Tính chất nuôi cấy M. tuberculosis hiếu khí và phát triển tốt nhất ở 37°C và pH thích nghi từ 6,7 - 7. Chúng phát triển rất chậm và thường mất 1 - 2 tháng để hình thành khuẩn lạc trên môi trường.
tuberculosis tạo thành các khuẩn lạc loại R trên môi trường rắn Loeweinstein (bao gồm chủ yếu là khoai tây, huyết thanh và asparagin) khô nhăn nheo giống như hoa súp lơ và mọc thành váng và lắng cặn trong môi trường Sauton (môi trường tổng hợp) [6], [7]. Sức đề kháng So với các vi khuẩn không sinh nha bào khác thì vi khuẩn lao có khả năng đề kháng cao đối với các yếu tố lý hóa (nhiệt, tia cực tím, phenol) hay bằng phương pháp khử trùng Pasteur (đun nóng 62°C trong 30 phút) [6], [7], [9]. Trang 1 Vi khuẩn lao đề kháng ở môi trường khô (ngoài ánh sáng mặt trời vi khuẩn chết sau 1 - 2 giờ), các chất sát khuẩn như crezyl, nước javel, cồn iod giết chết vi khuẩn sau 2 - 5 giờ [6], [7], [9]. Ở điều kiện ẩm, thiếu asnh sáng như đờm ẩm, vi khuẩn lao có thể sống đến 1 tháng; trong sữa chúng có thể sống đến vài tuần [6], [7], [9].
Với kháng sinh và hóa trị liệu, trực khuẩn lao ngày càng kháng lại nhiều loại thuốc kháng sinh như rifampicin, streptomycin, ethambutol, INH,…[7]. tuberculosis thuộc giới Bacteria; ngành Actinobacteria; bộ Actinomycetales; họ Mycobacteriaceae, giống Mycobacterium. Mycobacteria được biết đến như một loại trực khuẩn kháng cồn, kháng acid (viết tắt là AFB: acid fast bacilli). Kháng axit - cồn ở 2 điểm: không bị axit - cồn giết chết ở nồng độ tiêu diệt vi khuẩn khác, và không bị tẩy trắng bằng cồn - axit trong quá trình nhuộm.
Tuberculosis complex gây bệnh lao ở người bao gồm: M. africanum, và gần đây là M. Khả năng và cơ chế gây bệnh Khả năng gây bệnh của vi khuẩn lao phụ thuộc vào độc lực của vi khuẩn lao và khả năng đề kháng của từng cơ thể. Cơ chế gây bệnh: M.
tuberculosis thường xâm nhập vào đường hô hấp qua các giọt nước bọt và gây bệnh lao phổi (90% tổng số bệnh lao). Các mô phế nang bị vi khuẩn xâm nhập tạo ra các ổ chứa vi khuẩn, sau đó đến các hạch lympho lân cận rồi đến các mô khác. Chúng vẫn có thể xâm nhập vào đường tiêu hóa (qua sữa bò tươi) và gây bệnh lao dạ dày, ruột. Bệnh lao hạch là căn bệnh phổ biến thứ hai sau bệnh lao phổi.
Ngoài ra vi khuẩn lao còn xâm nhập vào cơ thể qua da, giác mạc và sinh dục nhưng rất hy hữu [6], [7]. Lần nhiễm lao đầu tiên được gọi là lần sơ nhiễm. Vi khuẩn lao xâm nhập lần đầu tiên vào cơ thể gây nên tổn thương ngoại vi ở phần thông khí. Khi cơ thể trở nên quá mẫn trong 2 - 4 tuần kể từ khi tổn thương dạng hạt xuất hiện và hạt lao điển hình được hình thành.
Khoảng 90% trường hợp nhiễm lao nguyên phát khỏi và để lại khả năng miễn dịch với vi khuẩn lao [6], [7]. Trang 2 Từ 5 - 15% trường hợp nhiễm lao nguyên phát triển thành bệnh, hoặc do không được điều trị và giảm sức đề kháng, hoặc từ bệnh lao nguyên phát vài năm sau khi nhiễm bệnh lao. Phần lớn nguyên nhân là do sự hoạt động lại của ổ bệnh cũ khi bị lao sơ nhiễm. Những ổ bệnh thường khu trú ở phần dưới hoặc phần đỉnh hay đỉnh phổi do sự nhiễm trùng dai dẳng.
Khi bệnh được phát hiện thì hầu như tổn thương bã đậu đã hóa lỏng và hang lao hình thành, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn lao phát tán, lây truyền bệnh nhanh chóng qua đờm dãi, nước bọt [6], [7]. Từ cơ quan ban đầu có lao (phổi, ruột .), trực khuẩn lao theo máu và bạch huyết đến tất cả các cơ quan và gây lao ở các bộ phận khác nhau của cơ thể (lao nốt, viêm não màng não, lao thận, xương. Cơ chế bệnh sinh của bệnh lao phổi vẫn chưa được hiểu đầy đủ. Vi khuẩn này không có nội độc tố hoặc ngoại độc tố.
Các yếu tố độc lực của M. tuberculosis chưa được xác định. Nhưng có thể đó là sự kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó yếu tố sợi (cord factor) và lớp sáp của vách tế bào Bacillus là rất quan trọng. Các chủng vi khuẩn lao có độc lực chứa nhiều thành phần dạng sợi về mặt hóa học là 6,6' - dimycolyl trehalose.
Yếu tố sợi này làm cho vi khuẩn lao dính vào nhau tạo thành các bó sợi. Vi khuẩn lao sẽ giảm độc lực khi mất yếu tố sợi này [7]. Tổng quan về bệnh lao kháng thuốc Về vi sinh, vi khuẩn lao kháng thuốc do sự đột biến gen trong nhân tế bào vi khuẩn lao làm cho một hoặc nhiều loại thuốc điều trị bệnh bị mất hiệu lực [10]. Về quản lý và sử dụng thuốc, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng kháng thuốc trong điều trị lao, bao gồm: bác sĩ (kê đơn không đúng phác đồ, thiếu sự theo dõi, đánh giá), quản lý cung ứng (thiếu thuốc, thuốc kém chất lượng.
Phân loại bệnh lao kháng thuốc Lao đơn kháng: Lao kháng Rifampicin (RR-TB): Bệnh lao gây ra bởi M. Tuberculosis complex kháng Rifampicin. Các chủng này có thể nhạy cảm hoặc kháng với isoniazid; Lao kháng Isoniazid đơn (Hr-TB): Bệnh lao gây ra bởi M. Tuberculosis complex kháng Isoniazid nhưng nhạy cảm với Rifampicin.
Lao đa kháng thuốc (MDR - TB): Bệnh lao gây ra bởi M. Tuberculosis complex kháng Rifampicin và kháng Isoniazid [3] Trang 3 Lao tiền siêu kháng (pre XDR - TB): Bệnh lao gây ra bởi M. Tuberculosis complex kháng Rifampicin (và cũng có thể kháng isoniazid), kháng ít nhất một loại fluoroquinolone (levofloxacin hoặc moxifloxacin) [3] Lao siêu kháng (XDR - TB): Bệnh lao gây ra bởi M. Tuberculosis complex kháng Rifampicin (và cũng có thể kháng isoniazid), kháng ít nhất một loại fluoroquinolone (levofloxacin hoặc moxifloxacin) và ít nhất 1 loại thuốc “Nhóm A” khác (bedaquiline hoặc linezolid) [3] 2.
Các loại thuốc kháng lao Đáp ứng với tình hình nhiều loại thuốc điều trị lao được điều chế và đánh giá đưa vào phác đồ điều trị lao những năm gần đây, Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra phân loại thuốc lao cập nhật gần đây như sau: Thuốc chống lao hàng 1: Isoniazid (INH), Rifampicin (RIF), Ethambutol (EMB), Pyrazinamide (PZA) [3], [11]; Thuốc lao “Nhóm A”: Levofloxacin hoặc Moxifloxacin;edaquiline; Linezolid [3]; Thuốc lao “Nhóm B”: Clofazimine; Cycloserine hoặc Terizidone [3]; Thuốc lao “Nhóm C”: Ethambutol; Delamanid; Pyrazinamide; Imipenem-cilastatin hoặc Meropenem; Amikacin hoặc Streptomycin; Ethionamide hoặc Prothionamide; p-aminosalicylic acid [3]. Tình hình bệnh lao kháng thuốc trên thế giới Trên toàn cầu vào năm 2020, 71% (2,1/3,0 triệu người) được chẩn đoán mắc bệnh lao phổi xác nhận về mặt vi khuẩn học và được xét nghiệm để tìm kháng rifampicin, tăng từ 61% (1,7/3,4 triệu người) năm 2019 lên 71% (2,2/3,6 triệu người) năm 2020. Trong số này, 132222 trường hợp MDR/RR - TB và 25681 trường hợp tiền sử XDR - TB hoặc XDR - TB đã được phát hiện, tổng cộng lại là 157903. Đây là một sự sụt giảm lớn (22%) so với tổng số 201997 người được phát hiện mắc lao kháng thuốc trong năm 2019, phù hợp với mức giảm lớn tương tự trong tổng số người mới được chẩn đoán Lao (18%) và tổng số người được chẩn đoán mắc lao phổi được xác nhận bằng vi khuẩn (17%) được quan sát từ năm 2019 đến năm 2020.
Trên toàn thế giới, 150359 người mắc bệnh lao đa kháng thuốc/RR - TB đã được đăng ký điều trị vào năm 2020, giảm 15% so với tổng cộng 177100 vào năm 2019. Mức độ này tương đương với khoảng 1/3 trong số những người phát triển MDR /RR - TB mỗi năm [2]. Số người toàn cầu được báo cáo là đã được đăng ký điều trị MDR/RR- TB, 2015–2020 [2] Đến năm 2021 theo báo cáo bệnh lao từ tổ chức Thế giới WHO, số ca được chẩn đoán mắc lao phổi được xét nghiệm kháng rifampicin, cùng mức độ bao phủ như năm 2020 (2,1/3,0 triệu) [1]. Trong số những người được xét nghiệm, 141953 trường hợp MDR/RR - TB và 25038 trường hợp tiền XDR - TB hoặc XDR - TB đã được phát hiện, tổng cộng là 166991[1].
Đây là mức tăng (6,4%) từ tổng số 156982 vào năm 2020, nhưng thấp hơn mức tăng 9,7% trong tổng số người được chẩn đoán và báo cáo mắc bệnh lao từ năm 2020 đến năm 2021 [1]. Nó cũng vẫn được xem xét thấp hơn đáng kể (17%) so với tổng số 201997 vào năm 2019 [1]. Trên toàn thế giới, có 161746 người mắc MDR/RR-TB được đăng ký điều trị vào năm 2021, tăng 7,5% so với 150469 vào năm 2020 nhưng vẫn thấp hơn đáng kể (11%) so với tổng số 181. Mức độ ghi danh này tương đương với khoảng một phần ba số người phát triển MDR/RRTB mỗi năm.
Có 10 quốc gia chiếm khoảng 70% có sự khác biệt đáng kể về phạm vi xét nghiệm lao RR-TB giữa các quốc gia vào năm 2021 [1]. Trong số 30 quốc gia có gánh nặng MDR/RR-TB cao thì 20 quốc gia đạt tỷ lệ xét nghiệm hơn 80%: Azerbaijan, Belarus, Trung Quốc, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Mông Cổ, Mozambique, Myanmar, Pakistan, Peru, Philippines, Cộng hòa Moldova, Liên bang Nga, Nam Phi, Tajikistan, Ukraine, Uzbekistan, Việt Nam, Zambia và Zimbabwe; tương đương với khoảng một phần ba số người phát triển MDR/RRTB mỗi năm [1]. Hầu hết những người được điều trị dự phòng bệnh lao cho đến nay đều là những người nhiễm HIV. Những thành tựu đáng kể trong phạm vi điều trị ở cấp độ toàn cầu đòi hỏi nỗ lực cải Trang 5 thiện xét nghiệm và chẩn đoán DR-TB cũng như khả năng tiếp cận điều trị ở những quốc gia này.
Tích cực hơn, tỷ lệ điều trị thành công đối với MDR/RR-TB đã được cải thiện. Trên toàn cầu vào năm 2019 (nhóm bệnh nhân mới nhất có dữ liệu), tỷ lệ điều trị thành công là 60%, phản ánh sự cải thiện ổn định trong những năm gần đây từ mức 50% vào năm 2012 [1]. Trong số các khu vực của WHO, tỷ lệ điều trị thành công năm 2019 dao động từ 57% ở Châu Âu đến 72% ở Đông Địa Trung Hải[1]. Đến cuối năm 2021, 124 quốc gia đã sử dụng bedaquiline như một phần của chế độ điều trị bệnh Lao DR (tăng từ 110 quốc gia vào năm 2020) [1].