MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ thời Trung cổ, kiểm toán đã được thực hiện để kiểm tra tính chính xác của các thông tin tài chính, sự phát triển của kiểm toán trong giai đoạn này chủ yếu với mục đích kiểm tra sự tuân thủ thực hiện bởi KTV của Nhà nước. Với sự ra đời của công ty cổ phần và sự mở rộng quy mô của các doanh nghiệp đã dẫn đến sự tách biệt giữa chức năng điều hành doanh nghiệp và quyền sở hữu của các cổ đông. Kiểm toán độc lập (KTĐL) đã ra đời vào đầu thế kỷ 18 và với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán với hàng triệu nhà đầu tư chứng khoán vào đầu thế kỷ 20, KTĐL lúc này đã chuyển từ mục đích phát hiện sai phạm sang mục đích mới là nhận xét về mức độ trung thực và hợp lý của các BCTC, kết quả kiểm toán chủ yếu phục vụ cho các bên thứ ba để giúp họ đánh giá về độ tin cây của BCTC.
Để đạt được mục đích này, thông qua quá trình nghiên cứu và hoạt động thực tiễn, các tổ chức nghề nghiệp, các tổ chức KTĐL và KTV đã hình thành nên những phương pháp kiểm tra mới được thiết lập trên cơ sở xây dựng và phát triển kỹ thuật lấy mẫu, kỹ thuật kiểm toán bằng máy tính và vấn đề đánh giá KSNB. Bước sang thế kỷ 21, cùng với tiến trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, đặc biệt là thị trường tài chính và sự phát triển của lực lượng các nhà đầu tư quốc tế vượt ra khỏi biên giới của các quốc gia đã làm tăng nhu cầu bảo đảm độ tin cậy của thông tin trên BCTC. Mặt khác, sự kiện Enron và sự sụp đổ của Arthur Andersen đã dẫn đến những thách thức lớn lao cho nghề nghiệp kiểm toán vào thời điểm này. Những yêu cầu trên đã thúc đẩy việc mở rộng và nâng cao chất lượng kiểm toán BCTC.
Đánh giá KSNB cũng có sự thay đổi trong tiếp cận trên cơ sở đánh giá rủi ro nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán BCTC. Theo cách tiếp cận này, các KTV sẽ tập trung vào các kiểm soát dành cho các rủi ro có sai sót trọng yếu trên BCTC thay vì tập trung vào toàn bộ các kiểm soát cho các rủi ro trong đơn vị được kiểm toán. Như vậy, KTV phải có hiểu biết đầy đủ đặc điểm đơn vị, ngành nghề kinh doanh và KSNB của khách hàng để từ đó đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cơ sở dẫn liệu hay khoản mục của BCTC. Trong phương thức tiếp cận này, KTV sẽ ít chú trọng đến các nghiệp vụ thường xuyên vì KSNB đối với các nghiệp vụ này thường hữu hiệu, KTV thông qua việc thực hiện các thử nghiệm kiểm soát (TNKS) sẽ dựa nhiều hơn vào KSNB nếu kiểm soát được đánh giá là hữu hiệu, đồng thời sẽ tập trung nhiều vào các nghiệp vụ không thường xuyên, những ước tính kế toán và các đánh giá vì những vấn đề này có thể gây ra sai lệch trọng yếu trên BCTC.
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, để đáp ứng cho sự phát triển không LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 ngừng của nền kinh tế, cơ sở hạ tầng cũng đang được phát triển mạnh mẽ với hàng nghìn công trình xây dựng đang được thực hiện đòi hỏi phải có lượng vốn đầu tư rất lớn. Nguồn vốn này có thể được huy động từ vốn góp của các nhà đầu tư, phát hành cổ phiếu ra công chúng hoặc vay nợ, chính vì vậy đối tượng quan tâm và sử dụng số liệu trong BCTC của các đơn vị này không chỉ có nhà quản lý trong đơn vị, mà còn có các đối tượng bên ngoài như cơ quan nhà nước, ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các nhà đầu tư, … Để đảm bảo tính khách quan, sự trung thực và hợp lý của thông tin được trình bày trên BCTC đến các đối tượng quan tâm thì những thông tin, số liệu đó cần phải được xác minh bởi KTĐL. Việc kiểm tra trực tiếp từng đối tượng, từng nghiệp vụ để phát hiện ra sai phạm là vô cùng khó khăn và rất nhiều rủi ro do khối lượng công việc lớn, trong khi đó mức độ sai phạm và sự che dấu sai phạm rất tinh vi. Vì vậy, việc dự đoán khả năng sai phạm để khoanh vùng kiểm toán, xác định trọng điểm kiểm toán là rất cần thiết.
Đánh giá KSNB trong kiểm toán BCTC DNXL là một công việc rất quan trọng trong quá trình thực hiện kiểm toán BCTC, việc thực hiện đánh giá KSNB không chỉ thể hiện sự tuân thủ chuẩn mực nghề nghiệp của KTV khi tiến hành kiểm toán mà còn giúp KTV đánh giá đúng về những rủi ro tại các DNXL làm cơ sở để xác định nội dung, phạm vi và các phương pháp kiểm toán phù hợp. Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315, KTV và công ty kiểm toán cần xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn ở cấp độ BCTC và cấp độ cơ sở dẫn liệu thông qua sự hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị trong đó có kiểm soát nội bộ từ đó cung cấp cơ sở cho việc thiết kế và thực hiện các biện pháp xử lý đối với các rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá. Những hướng dẫn về đánh giá KSNB trong kiểm toán BCTC ở Việt Nam hiện nay đã được công bố trong chương trình kiểm toán mẫu kiểm toán BCTC và định kỳ được cập nhật, tuy nhiên đây là hướng dẫn chung cho các doanh nghiệp mà chưa có những hướng dẫn chi tiết cho từng loại hình trong đó có doanh nghiệp xây lắp do đó khi áp dụng việc đánh giá KSNB vào những loại hình đơn vị này sẽ dẫn tới những vướng mắc trong thực hiện và sự không thống nhất giữa các công ty kiểm toán độc lập. Để đảm bảo chất lượng các cuộc kiểm toán BCTC của doanh nghiệp xây lắp do kiểm toán độc lập thực hiện đòi hỏi phải tăng cường việc nâng cao tính hữu hiệu đánh giá KSNB trong kiểm toán để có thể xác định được nội dung, thời gian và phương pháp kiểm toán phù hợp cũng như việc xác định đúng trọng tâm của cuộc kiểm toán BCTC tại mỗi đơn vị khách hàng.
Vấn đề quản lý cần được đặt ra đó là đánh giá KSNB được các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam thực hiện và kiểm soát chất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 lượng như thế nào, những nhân tố nào ảnh hưởng đến tính hữu hiệu đánh giá KSNB các DNXL trong kiểm toán BCTC?… Xuất phát từ vấn đề lý luận và thực tiễn trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Đánh giá kiểm soát nội bộ trong kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp xây lắp của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam” cho luận án tiến sĩ của mình. Tổng quan nghiên cứu và nhận diện khoảng trống nghiên cứu 2. Nghiên cứu về đánh giá kiểm soát nội bộ trong kiểm toán báo cáo tài chính 2. Các nghiên cứu về tiếp cận đánh giá Tiếp cận đánh giá KSNB dựa trên rủi ro Felix Jr.
(2000) cho rằng để nhận diện các kiểm soát cho các rủi ro và đánh giá KSNB dựa trên rủi ro một cách hiệu quả, KTV cần tìm hiểu cách thức các nhà quản lý giám sát các yếu tố có thể ảnh hưởng đến nguy cơ tạo ra những rủi ro tại đơn vị. David Brewer & William List (2004) cho rằng, nếu KSNB được thiết kế kém sẽ để lại nhiều rủi ro không mong muốn hơn là một KSNB được thiết kế tốt. Khi đánh giá tính hữu hiệu của KSNB, KTV cần xem xét liệu các kiểm soát được thiết lập có giảm thiểu được các rủi ro thông qua khả năng phân tích nhiều lựa chọn và đơn vị được kiểm toán có chọn được các giải pháp kiểm soát thích hợp hay không. Knechel (2007) đã phát triển một mô hình kiểm toán dựa trên rủi ro doanh nghiệp, thông qua quy trình đánh giá rủi ro về cơ sở dẫn liệu cho số dư tài khoản đã cho rằng để đánh giá về KSNB thì nên bắt đầu tìm hiểu các thủ tục kiểm soát, sau đó là các hệ thống thông tin và cuối cùng là môi trường kiểm soát.
Theo Mawanda (2011) việc đánh giá KSNB dựa trên rủi ro sẽ hiệu quả nếu KTV đảm bảo được một số nguyên tắc: Xác định các mục tiêu phù hợp của các nhà quản lý & ban giám đốc; Xác định, phân tích rủi ro và chia chúng theo mức độ tác động; Xác định các rủi ro có thể phát sinh từ gian lận. Đồng thời, cần xác định các thủ tục kiểm soát hiệu quả thể hiện thông qua các chính sách do đơn vị được kiểm toán thiết lập để đảm bảo việc thực hiện các quyết định quản lý, bao gồm các hoạt động liên quan đến thiết kế các kiểm soát của tổ chức và đánh giá việc thực hiện các kiểm soát đó. Các hoạt động kiểm soát (HĐKS) chỉ hiệu quả khi đảm bảo các cơ chế, thủ tục và chính sách pháp lý được xây dựng và cập nhật thường xuyên. hoạt động kiểm soát phải luôn cải tiến để đối phó với hoàn cảnh và những thay đổi của môi trường mới đảm bảo tính hữu hiệu cho KSNB.
Khi đánh giá về KSNB, KTV cần xem xét các kiểm soát chính được đơn vị khách hàng thực hiện để đảm bảo giảm thiểu các rủi ro không mong muốn có thể xảy ra. Các kiểm soát nếu tồn tại mà không giảm thiểu cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 bất kỳ rủi ro nào hoặc những kiểm soát để giảm thiểu những rủi ro không đáng kể là các kiểm soát không cần thiết (Edward, 2011). Nguyễn Thị Lan Anh (2012) cho rằng để nhận thức rõ được đặc điểm của kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên cần sử dụng cách thức mô tả kiểm soát nội bộ đúng đắn nhất từ đó sử dụng các xét đoán chuyên môn của mình để đánh giá rủi ro và xác định các thủ tục kiểm toán nhằm giảm rủi ro kiểm toán xuống thấp tới mức có thể chấp nhận được. Kiểm toán viên cần thực hiện mô tả về KSNB thông qua lưu đồ, bảng tường thuật hoặc bảng câu hỏi về kiểm soát nội bộ.
Cùng quan điểm này, Mạc Thị Thu Hiền (2013) cũng xác định để giúp nhận thức rõ hơn, trực quan hơn các khía cạnh cơ bản của kiểm soát nội bộ như các quá trình và thủ tục kiểm soát được thiết lập và vận hành trong đơn vị để nhận diện các rủi ro liên quan, KTV cần thực hiện mô tả chi tiết về kiểm soát nội bộ.