Đặt vấn đề Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp, ngoài trồng trọt, ngành chăn nuôi giữ vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế của đất nƣớc. Xu hƣớng phát triển nông nghiệp theo con đƣờng thâm canh công nghiệp hoá đang diễn ra mạnh mẽ. Đặc biệt là ngành chăn nuôi gia cầm đƣợc quan tâm hàng đầu vì nó có khả năng đáp ứng nhanh một lƣợng lớn thực phẩm có giá trị dinh dƣỡng cao cho nhu cầu xã hội trong thời gian ngắn. Xã hội phát triển, nhu cầu cuộc sống của ngƣời dân ngày một nâng cao, cho nên thực phẩm có chất lƣợng cao đang đƣợc quan tâm chú ý rất nhiều của ngƣời tiêu dùng.
Trƣớc tình hình đó, đòi hỏi ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng cần phải có những bƣớc phát triển mới về công tác giống, kỹ thuật chăm sóc nuôi dƣỡng mới có thể đáp ứng đƣợc yêu cầu về thực phẩm ngày càng khắt khe của ngƣời tiêu dùng. Trƣớc thực tế đó, từ những năm 1992 – 1997 nƣớc ta đã nhập một số giống gà có năng suất cao, chất lƣợng thịt, trứng tốt hợp thị hiếu ngƣời tiêu dùng và thích hợp với điều kiện nuôi bán công nghiệp nhƣ gà Kabir của Isarel, gà Tam Hoàng, Lƣơng Phƣợng của Trung Quốc. Bên cạnh đó ta còn nhập giống gà chuyên thịt: CP707 cho năng suất thịt cao chất lƣợng thịt tốt nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của ngƣời tiêu dùng. Vì vậy, để có thêm cơ sở khoa học cho việc đánh giá khả năng sinh trƣởng phát triển của gà thịt CP707, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá khả năng sinh trưởng của giống gà CP707 nuôi tại xã Phùng Châu Huyện Chương Mỹ Hà Nội” 1.
Mục đích của đề tài : - Xác định khả năng sinh trƣởng và cho thịt của gà thịt cp 707 2 - Từng bƣớc hoàn thiện quy trình chăm sóc nuôi dƣỡng để phát huy tiềm năng của con giống. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá đƣợc khả năng sinh trƣởng của gà thịt CP 707. Rèn luyện tay nghề nâng cao hiểu biết kinh nghiệm thực tế. Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lƣợng chăn nuôi.Ý nghĩa khoa học và Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Đóng góp cho ngành chăn nuôi thú y những thông tin về thực trạng khả năng sinh trƣởng trên đàn gà thịt CP 707.
Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo để phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm sinh lý tiêu hoá của gia cầm Tiêu hóa là một quá trình phân giải các chất dinh dƣỡng trong thức ăn từ những hợp chất hóa học phức tạp chuyển biến thành những hợp chất đơn giản mà cơ thể gia cầm có thể hấp thu và lợi dụng đƣợc. Theo Lê Hồng Mận và cs (2007) [6] sự trao đổi chất và năng lƣợng ở gia cầm cao hơn so với động vật có vú và đƣợc bồi bổ nhanh chính bởi quá trình tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dƣỡng.
Khối lƣợng rất lớn các chất tiêu hóa đi qua ống tiêu hóa thể hiện tốc độ và cƣờng độ của các quá trình tiêu hóa ở gà, vịt, ở gà còn non tốc độ là 30 – 39 cm/giờ, gà con lớn hơn là 32 – 40 cm/giờ, và ở gà trƣởng thành là 40 – 42 cm/giờ, chất tiêu hóa đƣợc giữ lại trong ống tiêu hóa không quá 2 – 4 giờ. Cơ quan tiêu hóa gia cầm bao gồm: khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dƣới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràng và lỗ huyệt, đồng thời có sự tham gia của gan và tuyến tụy. Sự hình thành cơ quan tiêu hóa ở dạng nếp gấp của phôi gà bắt đầu từ ngày ấp thứ 2 (tức sau 24h), ở ngỗng và vịt bắt đầu sau khi ấp 30-60 giờ. * Tiêu hóa ở miệng Gia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, một phút mổ 180 - 240 lần, lúc đói mổ nhanh, mỏ mở rộng.
Mặt trên lƣỡi có răng rất nhỏ hóa sừng, hƣớng về cổ họng để đƣa thức ăn về phía thực quản - thị giác và xúc giác kiểm tra tiếp nhận thức ăn, còn vị giác và khứu giác kém hơn. Tuyến nƣớc bọt kém phát triển, thành phần chủ yếu là dịch nhầy. Nƣớc bọt có tác dụng thấm trơn thức ăn thuận tiện cho việc nuốt. Trong nƣớc bọt có chứa một số ít men amylaza nên có ít tác dụng đối với tiêu hóa.
Gà mái có thể 4 tiết 7 - 25ml nƣớc bọt trong một ngày đêm (bình quân khoảng 12ml) (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1998 [4]). Thức ăn vào diều, khi đói theo ống diều vào thẳng dạ dày, không giữ lại lâu ở diều. * Tiêu hóa ở diều Diều gà hình túi ở thực quản chứa đƣợc 100 - 120mg thức ăn. Giữa các cơ thắt lại có ống diều để khi gà đói, thức ăn đi thẳng vào phần dƣới của thực quản và dạ dầy không qua túi diều.
Ở diều thức ăn đƣợc làm mềm, quấy trộn và tiêu hóa từng phần do các men và vi khuẩn có trong thức ăn thực vật. Thức ăn cứng lƣu lại trong diều lâu hơn. Khi thức ăn và nƣớc có tỉ lệ 1:1 thì đƣợc giữ lại ở diều 5 - 6 giờ. Độ pH trong diều gia cầm là 4,5 - 5,8.
Sau khi ăn từ 1- 2 giờ diều co bóp theo dạng dãy với khoảng cách 15 - 20 phút, sau khi ăn từ 5 - 12 giờ là 10 - 12 phút. Ở diều nhờ men amylaza của nƣớc bọt chuyển xuống, tinh bột đƣợc phân giải thành đƣờng đa rồi một phần chuyển thành đƣờng glucoza. * Tiêu hoá ở dạ dày Dạ dày chia ra: Dạ dày tuyến và dạ dày cơ - Dạ dày tuyến: Cấu tạo từ cơ trơn là dạng ống ngắn, có vách dày, khối lƣợng khoảng từ 3,5 - 6 gam. Vách gồm màng nhầy, cơ và mô liên kết Dịch có chứa chlohydric, pepsin và musin.
Sự tiết dịch diễn ra liên tục, sau khi ăn càng đƣợc tăng cƣờng. Thức ăn không giữ lâu ở dạ dày tuyến, khi đƣợc dịch dạ dày làm ƣớt, thức ăn chuyển xuống dạ dày cơ nhờ nhịp co bóp đều đặn của dạ dày cơ (không quá một lần/phút). 5 - Dạ dày cơ: Cấu tạo từ cơ vân, có dạng hình đĩa hơi bóp ở phía cạnh. Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hóa mà dịch này từ dạ dày tuyến tiết ra chảy vào dạ dày cơ.
Thức ăn đƣợc nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn và tiêu hóa dƣới tác dụng của men dịch dạ dày, enzyme và các vi khuẩn. Acid Chlohydric tác động làm cho các pepton và một phần thành các acid amin. Từ dạ dày cơ, các chất dinh dƣỡng đƣợc truyền vào tá tràng có các men của dịch ruột và tuyến tụy cùng tham gia, môi trƣờng kiềm hóa tạo điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của các men phân giả protein và glucid. Sỏi và các dị vật trong dạ dày làm tăng tác động nghiền của vách dạ dày.
Tốt nhất nên cho gà ăn sỏi thạch anh vì không bị phân hủy bởi Acid Chlohydric. * Tiêu hoá ở ruột Ruột non của gia cầm có đầu trên giáp với dạ dày cơ, đầu dƣới giáp với manh tràng. Ruột già của gia cầm không phát triển, nó do trực tràng thô ngắn và hai manh tràng đổ vào đoạn đầu trực tràng tạo thành. Quá trình cơ bản phân tích men từng bƣớc các chất dinh dƣỡng đều đƣợc tiến hành chủ yếu ở ruột non.
Thành ruột cũng có lớp nhung mao nhăn nheo. Các tuyến tiêu hóa phân bố dọc thành niêm mạc ruột. Dịch ruột gà lỏng, đục, kiềm tính, pH = 7,42 với độ đặc 1.0076 và chứa các men proteolyse, amonlitic, lypolitic và enterokinaza. Dịch tuyến tụy - pancreatic - lỏng, không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc kiềm (pH = 6 ở gà, pH = 7,2 -7,5 ở gia cầm khác).
Dịch này có men tripsin, carboxi peptidaza, mantaza và lipaza. Trong các chất khô của dịch này có các acid amin, lipid và các chất khoáng CaCl2, NaCl, NaHCO3… Gà một năm tuổi, lúc bình thƣờng tuyến tụy tiết ra 0,4 - 0,8ml/giờ, sau khi 5 - 10 phút lƣợng tiết tăng gấp 3-4 lần, giữ cho đến giờ thứ 3, rồi giảm dần. Thành phần thức ăn có ảnh hƣởng đến quá trình tiết dịch men của tụy: 6 thức ăn giàu protein nâng hoạt tình proteolyse lên 60%, giàu lipid tăng hoạt tính của lypolitic,…. Mật của gia cầm đƣợc tiết liên tục từ túi mật vào đƣờng ruột, lỏng màu sáng hoặc xanh đậm, tính kiềm, pH =7,3 - 8,5.
Mật có vai trò đa dạng trong quá trình tiêu hóa của gia cầm, gây nên nhũ tƣơng mỡ, hoạt hóa các enzym tiêu hóa của dịch tụy, kích thích làm tăng nhu động ruột, tạo điều kiện hấp thu các chất dinh dƣỡng đã đƣợc tiêu hóa, đặc biệt là các acid béo mà chúng tạo thành các hợp chất dễ hòa tan. Mật ngăn cản việc gây nên vết loét trên màng nhầy của dạ dày cơ và có tính diệt khuẩn. Ở ruột gluxit đƣợc phân giải thành các monosaccarit do men amylaza của dịch tụy, một phần của dich ruột. Phần dƣỡng chất không đƣợc hấp thu ở ruột non chuyển xuống manh tràng và van hồi manh tràng của ruột già.
Ruột già không có tuyến tiết dịch tiêu hóa, chỉ có tế bào chén của màng nhầy tiết ra dịch nhầy. Quá trình tiêu hóa trong ruột già phụ thuộc vào enzyme của ruột non đi xuống, các enzyme này chỉ hoạt động ở phần đầu ruột già. Ở đây cũng diễn ra quá trình tiêu hóa nhƣ ở ruột trong ruột non. Trong ruột già còn có hệ vi sinh vật cƣ trú, về số lƣợng và chủng loại giống nhƣ trong dạ cỏ của động vật nhai lại.
Các vi sinh vật này hoạt động chủ yếu ở manh tràng, phân giải cellulose, bột đƣờng, protein. Quá trình tiêu hóa trong ruột già một phần do tác dụng của emzyme ở ruột non đi xuống còn chủ yếu nhờ tác dụng của hệ vi sinh vật. Quá trình tiêu hóa cellulose và tiêu hóa protein tạo ra các acid béo bay hơi và các amino acid sẽ đƣợc hấp thu ở đây. Một số vi khuẩn lại sử dụng một số chất trong ruột già để tổng hợp nên vitamin K, vitamin B12, và phức hợp vitamin B.
Trong ruột già còn có quá trình viên phân, tạo phân (Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, 2005 [11]).