CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Đặc điểm sinh học của mò đỏ ký sinh trên gà 1. Vị trí của mò đỏ trong hệ thống phân loại động vật học * Vị trí của mò đỏ trong hệ thống phân loại động vật học Theo Nguyễn Văn Châu (1997) [5], mò đỏ có vị trí trong hệ thống phân loại động vật chân đốt như sau: Ngành Arthropoda Lớp Arachnida Bộ Acariformes Họ Trombiculidae Giống Leptotrombidium, Gahrliepia, Gallinarum Loài Eutrombicula whichmanni Loài Neoschoengastia gallinarum 1.
Đặc điểm hình thái, cấu tạo của mò đỏ ký sinh trên gà * Đặc điểm hình thái, cấu tạo của mò đỏ Hình 1. Hình ảnh của ấu trùng mò đỏ (Nguồn: Nguyễn Văn Châu, 1997a [5]) 5 Theo Nguyễn Văn Châu (1994) [4], cho đến nay, phân loại mò chủ yếu dựa vào các đặc điểm cấu tạo bên ngoài của cơ thể ấu trùng, vì giai đoạn ấu trùng mò sống ký sinh nên dễ dàng thu thập hơn các giai đoạn khác. + Ấu trùng mò đỏ có thân hình trứng, màu đỏ, khiên nằm ở phía trước thân. Khiên có hình chữ nhật, cạnh trước hơi lõm, cạnh sau hình cung.
+ Trên khiên có 5 lông, trong đó 4 lông mọc ở 4 góc và 1 lông nằm ở giữa cạnh trước. Ngoài ra còn có 2 lông cảm giác, ngọn lông có phân nhánh. + Mặt lưng đa số các loài có 28 lông xếp thành 6 hàng có thứ tự từ trên xuống dưới như sau: 2 - 8 - 6 - 6 - 4 - 2. Hai bên khiên có mắt.
Mặt bụng có 18-20 lông (tuy nhiên có một số loài không có sự sắp xếp giống như thế này). Cơ thể ấu trùng gồm 2 phần: đầu giả (gnathosoma) và thân (idiosoma).Ấu trùng mò nhìn từ bụng (Nguồn: Dipalma A. và cs, 2012 [38]) 6 Hình 1. Ấu trùng mò nhìn từ phần lưng (Nguồn: Dipalma A.
và cs, 2012 [38]) Đầu giả. Đầu giả gồm gốc đầu, kìm, pan, họng và bao kìm. Gốc đầu cố định, phía dưới có một đôi lông phân nhánh gọi là lông gốc đầu và lỗ điểm. Lỗ điểm rời rạc hay xếp thành hàng.
Cách sắp xếp lỗ điểm là đặc điểm để phân loại tới giống. Kìm gồm hai phần: gốc kìm (cố định) và phiến kìm (cử động). Phiến kìm gồm thân và ngọn hay đỉnh kìm, trên đó thường có răng. Số lượng, hình dạng và cách sắp xếp răng trên kìm khác nhau tuỳ thuộc giống và loài.
Đa số giống và loài mò chỉ có 1 răng ở lưng và 1 răng ở bụng gần đỉnh kìm. Giống Schoengastia, kìm có dạng răng cưa. Giống Whartonia, kìm đặc biệt có nhiều răng to mập, uốn cong ra sau. Pan gồm 5 đốt: đốt chuyển, đùi, gối, cẳng và đốt bàn.
Trên các đốt đều có lông gọi là lông pan. Hình dạng và số lượng lông pan là đặc điểm phân loại tới loài. Trên đốt đùi và đốt gối đều có 1 lông ở mặt lưng. Đốt cẳng gồm 3 lông: 1 ở giữa lưng, 1 ở bờ, và 1 ở mặt bụng của đốt.
Bàn pan thường có 3 - 7 lông phân nhánh, 1 gậy cảm giác ở ngay gốc bàn, có hay không có lông đơn ở mút bàn. Họng hay hàm là phần cố định gắn liền với gốc đầu. 7 Bao kìm hay bao hàm là tấm bao bọc ở thân kìm, mỗi bên có một lông đơn hay phân nhánh gọi là lông bao kìm. Tiếp sau đầu giả là phần thân.
Kích thước và hình dạng thân ấu trùng phụ thuộc vào mức độ no, đói của từng loài mò. Thân gồm mặt lưng và mặt bụng. Trên mặt lưng có tấm mai lưng (hay gọi là scutum), mắt và lông. Mặt bụng có 3 đôi chân, lông và lỗ sinh dục.
Mai lưng: là tấm kitin trên lưng ở phía trước thân ấu trùng, thường có dạng hình chữ nhật, vuông, thang hay lưỡi xẻng. Trên mai lưng có lông và lông cảm giác. Lông trên mai lưng có tên tuỳ theo vị trí của chúng, thường có trên 3 lông. Đa số các giống, mai lưng có 5 lông: 1 lông trước giữa (AM); 2 lông trước bên (AL) và 2 lông sau bên (PL).
Trường hợp mai lưng chỉ có 3 lông (không kể lông cảm giác) gồm 2 lông sau bên ở ngoài mai (như một số loài thuộc giống Doloisia). Trường hợp mai lưng chỉ có 4 lông (như ở phân giống Walchia thuộc giống Gahrliepia) thì lông AM thiếu. Trường hợp mai lưng có 6 lông trở lên (như các giống thuộc phân họ Leewenhoekiinae có 2 lông trước giữa). Phân giống Gahrliepia có nhiều lông phụ sau lông sau bên.
Lông cảm giác hình dạng thay đổi tuỳ thuộc vào từng loài, từ hình sợi đến hình cầu. Trên scutum có lỗ điểm, mức độ to, nhỏ, dày hay thưa tuỳ thuộc vào từng loài. Mắt: ở trên lưng gần góc sau bên của mai lưng. Mắt nằm trong tấm mắt.
Mỗi bên thường có 2 mắt (2 + 2) hoặc 1 mắt (1 + 1). Lông trên thân ấu trùng gồm có lông lưng và lông bụng. Số lượng lông lưng và lông bụng thay đổi tuỳ theo từng loài, xếp thành hàng hay không thành hàng. Lông lưng: hàng đầu tiên là lông vai, tiếp theo đến hàng lông lưng thứ nhất, thứ hai.
số lượng lông trong các hàng thay đổi tuỳ theo từng loài mò, được biểu thị bằng công thức lông lưng. Ví dụ lông lưng ở L.2 = 28 (có nghĩa là lông vai 2 chiếc, hàng lông lưng thứ nhất 8 chiếc, hàng lông lưng thứ hai 6 chiếc. tổng cộng 28 chiếc). Lông lưng thường phân nhánh hình lông chim và dài 8 hơn lông bụng.
Ở phân giống Trombiculindus thuộc giống Leptotrombidium, lông lưng mở rộng từ hình lá đến hình tim. Lông bụng gồm: lông ức, lông bụng và lông đuôi. Lông ức ở giữa ức thường có 2 hay 3 đôi; nếu 2 đôi thì mỗi bên có 2 lông (2+2), nếu 3 đôi mỗi bên có 3 lông (3+3): lông bụng ở sau các gốc chân III, mọc thành hàng hay không thành hàng, ngắn hơn lông lưng, hình lược hay phân nhánh một bên. Lông đuôi ở phía sau lỗ hậu môn đến cuối bụng; kích thước và hình dạng giống lông lưng.
Chân: ấu trùng mò có 3 đôi chân, mỗi chân có 6 hay 7 đốt. Nếu chân 7 đốt gồm: đốt gốc, chuyển, gốc đùi, ngọn đùi, gối, cẳng và đốt bàn. Nếu chân 6 đốt thì đốt gốc và ngọn đùi gắn liền thành đốt đùi. Trên các đốt chân đều có lông phân nhánh, ngoài ra còn có lông đơn dài hay ít nhiều có phân nhánh ở gốc, gậy cảm giác có gai nhỏ.
Bàn chân I, II còn có lông gần bàn, lông bên gần mút bàn và lông trước bàn. Cuối các đốt bàn có 2 móng và 1 đệm. Móng thường mập hơn đệm, đôi khi phủ bởi nhiều sợi tơ nhỏ. Hình thái ấu trùng mò đỏ Nguồn: Nguyễn Văn Châu, 1997a [5] 9 CHÚ THÍCH CHI TIẾT CẤU TẠO CỦA MÒ ĐỎ 1.
Hàng lông thứ hai 2. Đốt gốc đùi 25. Đốt ngọn đùi 26. Lông bên gần mút bàn 16.
Lỗ hậu môn 6. Lông gần mút bàn 17. Gốc chân III 8. Lông trước vuốt 30.
Lông gốc chân 9. Gốc chân II 111. Gậy đốt gối I 22. Hàng lông lưng thứ nhất 33.
Gốc chân I SCUTUM VÀ CÁC SỐ ĐO TRÊN SCUTUM SCUTUM (mai lưng), SENs (lông cảm giác) 10 Hình 1. Hình thái ấu trùng mò đỏ Nguồn:Nguyễn Văn Châu, 1997a [5] 11 1. Vòng đời của mò đỏ * Vòng đời của mò đỏ Mò đỏ phát triển qua 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, thanh trùng, mò trưởng thành. Chỉ có ấu trùng mò mới sống ký sinh, hút máu và dịch mô.
Mò ký sinh rất lâu, từ 2 ngày đến 2 tháng tùy theo loài. Mò thanh trùng và trưởng thành sống tự do, ăn thực vật rữa nát hoặc trứng các loài côn trùng nhỏ khác. Mò đực xuất túi tinh ra môi trường có mùi hấp dẫn mò cái, mò cái dùng chân đẩy túi tinh vào lỗ sinh dục. Sau 1 tuần mò cái đẻ trứng, trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng bám vào vật chủ để hút máu.
Sau khi ăn no, ấu trùng rơi xuống đất, chui xuống đất mùn. Sau khoảng 12 ngày, ấu trùng lột xác thành thanh trùng, sau khoảng 30 ngày thanh trùng lột xác và phát triển thành mò trưởng thành. Ở nhiệt độ 22 - 300C, độ ẩm 100% thời gian hoàn thành vòng đời khoảng 3 tháng. Sự phân bố, sức đề kháng của mò ở ngoại cảnh * Sự phân bố của mò ở ngoại cảnh Mò thường phân bố ở những thung lũng ven suối, các vườn cây gần nguồn nước, những nơi ẩm thấp, cây cỏ rậm và có nhiều chuột hoạt động.
Mò thường không phát tán rải rác, chúng thường tập trung hoạt động trong phạm vi có đường kính 3 m, gọi là ổ mò. Tuy nhiên, do nước lũ hoặc do vật chủ hoạt động, mò có thể đi xa hơn, đến khu vực có điều kiện thích hợp và hình thành nhiều ổ mò. Thường thấy nhiều ổ mò ở vùng rừng núi, cây cối rậm rạp, có nhiều cỏ dại, đất mùn ẩm ướt; đặc biệt là những nơi có nhiều người đi lại như hai bên bờ suối, dọc bờ biển, hang hốc, núi đá; những nơi có nhiều thú thuộc bộ gặm nhấm, gà, chim. Trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng bò lên cỏ hoặc những bụi cây thấp, hoặc đám lá mục để đợi vật chủ là người hoặc động vật, mò bám chặt vào da của vật chủ đốt và hút máu.
Thời gian ấu trùng mò bám vào da vật chủ để hút máu từ 2 ngày đến 2 tháng tuỳ theo từng loài. Sau khi ăn no, chúng rơi xuống, chui vào đất, phát triển thành mò thanh trùng và mò trưởng thành. Cả mò trưởng thành và mò thanh trùng đều không hút máu người và động vật, chúng sống trong đất, ăn côn trùng nhỏ hoặc trứng mò, chỉ có ấu trùng mò mới đốt và hút máu ký chủ. 12 + Cách ăn của ấu trùng mò: ấu trùng cắm vòi vào da vật chủ, tiết men theo nước bọt làm tan rữa mô của vật chủ tạo thành một ống dẫn, trong có chứa dịch lỏng của mô, máu và nước bọt.
Mò hút chất dịch đó vào dạ dày, rồi lại tiết nước bọt ra theo ống dẫn làm phá huỷ sâu hơn tổ chức, mô của vật chủ. Nơi bị ký sinh lúc đầu là một nốt sẩn có đường kính 3 - 6 mm, sau đó hình thành bọc nước ở giữa, xung quanh tấy đỏ, đau, ngứa, khó chịu. Cuối cùng bọc nước vỡ ra, để lại một vết loét đặc hiệu có giá trị chẩn đoán bệnh. Ấu trùng mò chỉ ký sinh ở vật chủ 1 lần, ăn cho đến no mới rời vật chủ.
Sự phát triển và khả năng sống của mò ở ngoại cảnh Thời gian hoàn thành chu kỳ sinh học của mò phụ thuộc vào loài mò và môi trường, thường kéo dài 2 - 12 tháng (nhưng có thể dài hơn).