CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CUNG ỨNG THANH KHOẢN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG CUNG ỨNG THANH KHOẢN CỦA CÁC NHTM 1. Một số khái niệm liên quan đến thanh khoản của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm thanh khoản Trong tài chính trung gian, thuật ngữ “thanh khoản” có nhiều khái niệm khác nhau. Theo định nghĩa đơn giản nhất của Alshatti (2015) “thanh khoản của NHTM là khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính khi đến hạn”.
Dưới góc độ tài sản, thanh khoản được hiểu là một tài sản có thể được mua hoặc bán một cách nhanh chóng với chi phí giao dịch thấp nhất và giá cả hợp lý. Một tài sản được xem là thanh khoản khi đáp ứng được các tiêu chí: có sẵn số lượng mua hoặc bán, có sẵn thị trường và thời gian giao, giá cả hợp lý. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Bank Supervision, 2008), “thanh khoản là khả năng mà ngân hàng có thể tài trợ việc gia tăng của tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không gây ra những khoản tổn thất không thể chấp nhận được”. Vai trò cơ bản của ngân hàng trong việc chuyển hóa kỳ hạn của các khoản ký thác ngắn hạn sang các khoản cho vay dài hạn làm cho ngân hàng thường xuyên trong tình trạng dễ bị tổn thương trước rủi ro thanh khoản, về bản chất thể chế đặc thù và cả đối với thị trường với tư cách là một tổng thể.
Tạo thanh khoản (create liquidity) Một thuật ngữ khác liên quan đến thanh khoản là “tạo thanh khoản”, tạo thanh khoản là quá trình cung cấp thanh khoản cho nền kinh tế thông qua thị trường tài chính. Tức là quá trình chuyển đổi từ tiền gửi của khách hàng thành những khoản cho vay (tài sản) để cung cấp thanh khoản cho thị trường tài chính, ngân hàng cung cấp thanh khoản càng lớn có nghĩa là ngân hàng sử dụng phần lớn tiền Luan van 23 gửi thành những tài sản dài hạn, khi đó ngân hàng gặp khó khăn thanh khoản khi người gửi tiền muốn rút tiền trước hạn. Thực tế, tạo thanh khoản không chỉ giới hạn trong hoạt động của ngân hàng, doanh nghiệp cũng tạo được thanh khoản khi đầu tư tài sản bằng phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu trên thị trường vốn (Gorton & Pennachi, 1990). Như vậy, thanh khoản và tạo thanh khoản của ngân hàng là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ không thể tách rời nhau và đều thuộc chức năng quan trọng nhất của NHTM.
Xét theo khía cạnh “tạo thanh khoản”, các nhà nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết có thể đánh giá về “thanh khoản” của NHTM. Rủi ro thanh khoản Theo Basel Committee on Banking Supervision (1997), “rủi ro thanh khoản xuất phát từ việc ngân hàng không có khả năng gia tăng các khoản mục nguồn vốn để tài trợ cho việc gia tăng tài sản ngân hàng”. Một khái niệm khác cụ thể hơn về rủi ro thanh khoản, qua đó rủi ro thanh khoản được hiểu là rủi ro khi NHTM không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán; hoặc do các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán của NHTM, theo đó nó sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn (Duttweiler, 2009). Khi một ngân hàng gặp vấn đề về thanh khoản, thì ngân hàng đó không có đủ các nguồn tài trợ, hoặc từ việc huy động thêm các khoản mục nợ, hoặc chuyển đổi nhanh các tài sản thành tiền mặt, với một chi phí hợp lý.
Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro đặc trưng và phổ biến trong hoạt động ngân hàng thương mại. Tổng quan lý thuyết về tạo thanh khoản Ngân hàng là tổ chức tài chính trung gian quan trọng với hoạt động chủ yếu là chuyển đổi từ nguồn vốn nhàn rỗi của cá nhân hay tổ chức gửi tiết kiệm tại ngân hàng sang nơi có nhu cầu sử dụng vốn để đầu tư. Phân tích vai trò của ngân hàng trong việc tạo ra thanh khoản và qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đã có nghiên Luan van 24 cứu từ lâu (từ thời Adam Smith, 1776). Tuy nhiên, lý thuyết về ngân hàng tạo giá trị thanh khoản chỉ được nghiên cứu chính thức và được mô hình hóa bởi Bryant (1980) và sau đó là Diamond & Dybvig (1983).
Mô hình ngân hàng tạo giá trị thanh khoản cho nền kinh tế được gọi là mô hình chuyển đổi thanh khoản (transformation liquidity), tức là chuyển đổi các khoản nợ (chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn của cá nhân hay tổ chức) thành những tài sản dài hạn (khoản cho vay dài hạn). Diamond & Dybvig (1983) cho rằng ngân hàng tồn tại bởi vì họ cung cấp thanh khoản có bảo hiểm tốt hơn thị trường tài chính. Tuy nhiên, chính người bảo hiểm bảo đảm thanh khoản nên ngân hàng phải đối mặt với rủi ro chuyển đổi. Một cách tổng quát hơn, càng tạo ra thanh khoản cho nền kinh tế, thì rủi ro phải gánh chịu những khoản lỗ khi xử lý những tài sản thanh khoản kém để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của các ngân hàng càng cao.
Với mô hình chuyển đổi trên thì ngân hàng được xem là nôi tạo ra thanh khoản và quá trình chuyển đổi này sẽ xảy ra các vấn đề sau: (i) Ngân hàng cung cấp giá trị thanh khoản cho nền kinh tế và kích thích tăng trưởng kinh tế. (ii) Chênh lệch kỳ hạn giữa nợ phải trả ngắn hạn (tiền gửi ngắn hạn) và cho vay dài dài (tài sản dài hạn), gây rủi ro thanh khoản khi mất cân đối của kỳ hạn. (iii) Trong quá trình chuyển đổi các khoản nợ ngắn hạn thành tài sản dài hạn sẽ chịu tác động của các nhân tố bên trong và bên ngoài ngân hàng làm cho quá trình chuyển đổi không theo kỳ vọng của nhà quản trị, là nguyên nhân gây rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Có thể nói, những nghiên cứu trên và điển hình là nghiên cứu của Bryant (1980), Diamond & Dybvig (1983) đã có cách nhìn sâu sắc về thanh khoản và quá trình tạo thanh khoản của ngân hàng.
Tuy nhiên, những nghiên cứu này lại chưa quan tâm đến phương pháp đo lường thanh khoản của ngân hàng. Do vậy, các Luan van 25 nghiên cứu sau này đã kế thừa và phát triển các nghiên cứu trước đây, từ đó xây dựng nên các phương pháp đo lường thanh khoản của ngân hàng. Đo lường thanh khoản dựa trên sự mất cân đối về kỳ hạn Phát triển mô hình chuyển đổi thanh khoản của Bryant (1980) và Diamond & Dybvig (1983) khi thực hiện chuyển đổi từ khoản tiền gửi của khách hàng có kỳ hạn ngắn thành những khoản cho vay có kỳ hạn dài đã tạo nên khe hở kỳ hạn (tức là chênh lệch kỳ hạn giữa tiền gửi ngắn hạn và khoản cho vay dài hạn) được gọi là khe hở chuyển đổi thanh khoản (Liquidity Transformation Gap – LTGAP). Deep & Schaefer (2004) đã sử dụng khe hở chuyển đổi thanh khoản để đo lường và đánh giá thanh khoản của mỗi ngân hàng.
LTGAP được tính dựa trên bảng cân đối kế toán: Bên tài sản (Assets - A) bao gồm tài sản thanh khoản cao (liquidity assets - L) và tài sản thanh khoản kém (illiquidity assets – I), do đó A= L + I. Bên nợ phải trả bao gồm: nợ phải trả ngắn hạn (chủ yếu là tiền gửi - D) và nợ phải trả dài hạn (B). Do đó công thức trên bảng cân đối kế toán được viết lại: D+B+E=A (E là vốn chủ sở hữu). Trong đó, nợ phải trả ngắn hạn (D) có thanh khoản cao, trong khi nợ phải trả dài hạn và vốn chủ sở hữu có thanh khoản thấp.
Đo lường khe hở chuyển đổi thanh khoản được mở rộng hơn nữa là xác định giá trị chênh lệch giữa thanh khoản bên nợ phải trả và thanh khoản bên tài sản của ngân hàng. Tuy nhiên, để đo lường khe hở chuyển đổi thanh khoản một cách có ý nghĩa hơn khi so sánh mức chênh lệch cho từng quy mô tài sản ngân hàng thì cần phải lấy giá trị chênh lệch này chia cho tổng tài sản và được trình bày theo công thức sau: Công thức trên còn được biểu thị dưới dạng: (I-B-E)/A Trong đó: Tài sản thanh khoản (L) Tiền, các khoản tiền gửi ở tổ chức tín dụng, chứng khoán chính phủ, chứng khoán khác, các khoản Luan van 26 cho vay có kỳ hạn nhỏ hơn hoặc bằng 1 năm Tổng tiền gửi (D) Tổng tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi giao dịch và các khoản vay tổ chức tín dụng khác LTGAP là phương pháp đo lường thanh khoản dựa trên cả hai bên (bên tài sản và bên nợ phải trả) trên bảng cân đối kế toán, do đó những ngân hàng có tài sản thanh khoản bằng nhau nhưng LTGAP có thể khác nhau vì tùy thuộc vào cấu trúc tài chính của mỗi ngân hàng. Khi LTGAP = 0, có nghĩa là tiền gửi bằng tài sản thanh khoản (tiền huy động từ khách hàng được ngân hàng nắm giữ dưới dạng tài sản thanh khoản), điều này cho thấy rằng ngân hàng không thực hiện chuyển đổi thanh khoản nào. Ngân hàng chuyển đổi thanh khoản hoàn toàn khi sử dụng toàn bộ vốn huy động (tiền gửi) để cho vay dài hạn (tài sản dài hạn).
Ngân hàng có hệ số LTGAP càng lớn có nghĩa là càng giữ ít tài sản thanh khoản, đồng nghĩa với khả năng thanh khoản của ngân hàng càng thấp. Ưu điểm của phương pháp này là (i) thanh khoản được xét trên 2 hai yếu tố: yếu tố về tài sản và yếu tố nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán hay nói cách khác thanh khoản được dựa vào kỳ hạn của bên nguồn vốn (nguồn cung vốn) và kỳ hạn của bên sử dụng vốn, (ii) cung cấp thông tin về sự bất cân xứng về kỳ hạn của tiền gửi và khoản cho vay giúp ngân hàng có chiến lược quản trị kỳ hạn nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản của mỗi ngân hàng, (iii) dễ dàng tính toán (dữ liệu dựa vào bảng cân đối kế toán) giúp ngân hàng nhanh chóng xác định giá trị chênh lệch giữa tài sản thanh khoản và các khoản nợ phải trả ngắn hạn từ đó bổ sung tài sản thanh khoản (khi thiếu hụt) hoặc sử dụng chúng để đầu tư (khi dư thừa).