Đặt vấn đề Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản quốc gia vô cùng quý giá, là nguồn lực quan trọng của đất nước. Việc quản lý, khai thác sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh là nhiệm vụ quan trọng đang được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật nhằm đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”. Nghị quyết lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khoá IX tiế p tu ̣c đổ i mới chin ́ h sách , pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩ y ma ̣nh công n ghiê ̣p hoá , hiê ̣n đa ̣i hoá đấ t nước đã khẳ ng đinh ̣ “ Khai thác , sử dụng đất đúng mục đích, tiế t kiê ̣m và hiê ̣u quả , phát huy tối đa tiềm năng, nguồ n lực về đấ t ; đầ u tư mở rộng diê ̣n tích , nâng cao chấ t lượng và bảo vê ̣ đấ t ca nh tác nông nghiê ̣p, đảm bảo an ninh lương thực quố c gia và môi trường sinh thái theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước”.
Luật Đất đai năm 2003 quy định “Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” là một trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Mục 2 (từ Điều 21 đến Điều 30) của Luật này còn quy định trách nhiệm, nội dung thẩm quyền quyết định, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Điều 31 quy định căn cứ để giao đất, cho thuê đất phải dựa vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Luật Đất đai năm 2013 tại Mục 4, điều 22 quy định: Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai.
Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm định hướng cho các cấp, các ngành lập QHSDĐ chi tiết; là cơ sở pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai, làm căn cứ cho việc giao đất, cho thuê đất và đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Đồng thời việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm hạn chế việc sử dụng đất chồng chéo, lãng phí, bất hợp lý, kém hiệu quả, ngăn chặn các hiện tượng n 2 tranh chấp, lấn chiếm, huỷ hoại đất, phá vỡ cân bằng môi trường sinh thái, kìm hãm phát triển sản xuất cũng như phát triển kinh tế - xã hội. Được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của giảng viên Ths.Nguyễn Đình Thi em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011-2015”. Mục tiêu của nghiên cứu 1.
Mục tiêu tổng quát Đánh giá được kết quả thực hiện QHSDĐ huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011-2015 để tìm ra những thuận lợi và khó khăn, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực hiện quy hoạch cho địa phương trong thời gian tới. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội tác động đến QH giai đoạn 2011-2015 của huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa. - Đánh giá được kết quả thực hiện công tác QHSDĐ giai đoạn 2011 – 2015 của huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa. - Chỉ ra những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện QHSDĐ.
Từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp với điều kiện địa phương để công tác này đạt hiệu quả tốt nhất. - Làm cơ sở phục vụ cho địa phương điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất hằng năm. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Cơ sở pháp lý của đề tài Với đặc điểm “đất chật người đông” nên Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm, chú trọng tới vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để nhằm sử dụng hợp lý quỹ đất giúp người dân yên tâm sản xuất, đưa đất nước phát triển đi lên trong thời đại công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay. Sự quan tâm của Đảng thể hiện ngay trong hệ thống các văn bản pháp luật như: Hiến pháp, luật, các văn bản dưới luật và các nghị định hướng dẫn thi hành luật. Những văn bản này là cơ sở pháp lý cho các cấp thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai. - Công văn 429/TCQLĐĐ-CQH ĐĐ ngày 16 tháng 4 năm 2012 về việc hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, (1992) [6] đã khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” (chương 2, điều 18). - Luật Đất đai 1993, Nxb Chính trị Hà Nội. - Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998, Nxb Chính trị, Hà Nội - Luật sửa, đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, Nxb Chính trị Hà Nội. - Luật Đất đai năm 2003 Nxb Chính trị Hà Nội.
- Nghị định số 181/2004/ NĐ - CP [5] của chính phủ về hướng dẫn thi hành luật đất đai năm 2003. - Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2009 của Chính Phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. n 4 - Thông tư 30/2004/TT - BTNMT [3] của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Thông tư 19/2009/TT-BTNMT [2] ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Bộ tài nguyên môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Thông tư số 13/2011/TT-BTNMT [1] ngày 15/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về ký hiệu bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ quy hoạch sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất. - Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT ngày 30/06/2005 Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành quy trình lập và điều chỉnh quy hoach, kế hoạch sử dụng đất. - Quyết định số 114/2009/QĐ-Ttg ngày 28/9/2009 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch Tổng thể kinh tế xã hội tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020. - Quyết định số 1812/QĐ-UBND ngày 22/6/2007 của UBND tỉnh về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Yên Định thời kỳ đến năm 2020.
- Quyết định số 805/2014/QĐUB ngày 03/03/2014 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011 – 2015) huyện Yên Định đến năm 2020 - Thông tư số 69/2009/NĐ-CP, ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giao đất thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ tái định cư Do vậy, công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thống nhất trong cả nước mà vẫn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng thì các cấp lãnh đạo cần phải căn cứ vào các quy định của Nhà nước về thực hiện lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Điều này đã khẳng định tính pháp chế của nhà nước ta trong việc quản lý và sử dụng đất đai. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Khái niệm về QHSDĐ Quy hoạch là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như: phân bổ, bố trí, sắp xếp tổ chức đất đai tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau.[4] n 5 Về mặt bản chất cần xác định dựa trên quan điểm nhận thức: đất đai là các đối tượng của các mối quan hệ sản xuất.
Như vậy QHSDĐ sẽ là một hiện tượng kinh tế xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: kinh tế - kĩ thuật - pháp chế. Tính chất kinh tế: thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất. Tính chất kĩ thuật: thể hiện ở các tác nghiệp kĩ thuật như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu. Tính chất pháp chế: xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đấ đai theo pháp luật.
Tại luật đất đai 2013 nêu rõ: QHSDĐ là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo về môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất cảu các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định.[6] Từ đó có thể đưa ra khái niệm: QHSDĐ là hệ thống các biện pháp của Nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất và tổ chức sử dụng đất đai như một tư liệu sản suất, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường.[4] Từ những phân tích nêu trên cho thấy việc lập QHSDĐ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho trước mặt và lâu dài. Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương pháp, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, QHSDĐ được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập QH và kế hoạch sử dụng đất chi tiết của mình, xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai, làm cơ sở cấp đất và đầu tư phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ nhu cầu an sinh, văn hóa – xã hội.