CHƯƠNG 1. TONG QUAN VE QUAN LÝ DAT DAI VA KE HOẠCH SỬ DUNG DAT. Khái quát về đất đai và quản lý đất đai. Định nghĩa về đất đai và quản lý đất đai.
Dat đai vé mặt thuật ngữ khoa học được hiệu theo nghĩa rộng như sau: “Dat đai là một diện tích cụ thể của bê mặt trái đất bao gốm tắt cả các cầu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bê mặt đó như: khí hậu bê mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp tram tích sát bé mặt cùng với nước ngẫm và khoáng sản trong lòng dat, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tai để lại (san nên, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa. Đất đai là tài nguyên quý giá của Quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, địa bàn xây dựng các công trình kinh tế - văn hóa - xã hội, tô chức các hoạt động phát triển kinh tế, dân sinh và an ninh, quốc phòng. Tại Điều 54 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Dat đai là tài nguyên đặc biệt của Quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật”. Quản lý đất đai là quá trình sử dụng và phát triển đất trong khu vực nông thôn hoặc thành thị.
Các hoạt động sử dụng tài nguyên đất nhăm phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Nếu quá trình quản lý đất không tốt, kém hiệu quả sẽ rất dễ đến việc sử dụng sai mục đích hoặc bị khai thác quá mức, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Thậm chí làm suy giảm năng suất và phá vỡ trạng thái cân bằng tự nhiên. Vai trò của đất dai và quan lý đất đai.
Dat đai là nguôn của cải, là một tài sản cô định hoặc dau tư cô định, là thước đo sự giàu có của một quốc gia. Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội. Dat dai là địa điểm, là cơ sở của các thành phó, làng mạc các công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi và các công trình thuỷ lợi khác. Đất đai cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp, xây dựng như gạch ngói, xi, măng, gốm sứ.
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển KT - XH, đất đai là điều kiện lao động. Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tai va phát triển của xã hội loài nguoi. Néu không có đất đai thì rõ ràng không có bat kỳ một ngành sản xuât nao, cũng như không thê có sự tôn tại của 15 loài người. Dat đai tham gia vào tat cả các ngành kinh tế của xã hội, tuy nhiên, vai trò của đất đai đối với từng ngành rất khác nhau: - Trong các ngành phi nông nghiệp: Dat đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí dé hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản).
Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất. - Trong các ngành nông - lâm nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu sự tác động của quá trình sản xuất như cay, bừa, xới xáo.) và công cụ hay phương tiện lao động (sử dụng dé trồng trọt, chăn nuôi. Quá trình sản xuất nông - lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu, quá trình sinh học tự nhiên của đất. Hiện nay, kinh tế xã hội phát triển mạnh, cùng với sự tăng dân số nhanh đã làm cho mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng thăng thì vấn đề sử dụng đất càng trở nên quan trọng và mang tính toàn cầu.
Vai trò của công tác quản lý đất đai cụ thé như sau: - Quản lý nhà nước về đất đai là một trong số những lĩnh vực của quản lý nhà nước, đây là hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước có thâm quyên, các chủ thể là người có thâm quyền trong việc sử dụng các phương pháp, các công cụ quản lý thích hợp tác động đến hành vi, hoạt động của người sử dụng đất nhằm mục đích để đạt mục tiêu sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước nói chung và ở từng dịa phương nói riêng. - Thông qua hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, nhà nước sẽ nắm chắc tình hình đất đai dé từ đó biết rõ các thông tin chính xác về số lượng đất đai, về chất lượng đất đai, về tình hình hiện trạng của việc quản lý và sử dụng đất đai. - Cũng chính từ đó, nhà nước sẽ thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai theo quy hoạch và kế hoạch chung thống nhất. Đồng thời, nhà nước còn có trách nhiệm quan trọng đối với việc quản lý việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyền mục đích sử dụng đất, thu hồi đất; quản lý việc chuyên quyền sử dụng đất; quản lý việc lập quy hoạch, kế hoạch và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Nguyên tắc quản lý đất đai. - Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lí đất đai theo quy hoạch và pháp luật: 16 Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 54, Hiến pháp năm 2013 và tại Chương 2 của Luật đất dai năm 2013 thé hiện chức năng của Nhà nước XHCN là người quản lí mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có quản lí đất đai. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai, là người xây dựng chiến lược phát triển, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và phê duyệt các chương trình quốc gia về sử dụng, khai thác các nguồn tài nguyên. Một điều rất hiển nhiên là dù nguồn tài nguyên có phong phú, đa dạng đến đâu thì nó vẫn không phải là vô tận mà là đại lượng hữu hạn.
Trong khi đó, nhu cầu của xã hội trong việc sử dụng đất đai không có xu giảm mà ngày càng tăng. - Nguyên tắc ưu tiên bảo vệ và phát trién quỹ đất nông nghiệp: Việt Nam là nước có bình quân đầu người trên đất nông nghiệp thuộc loại thấp trên thế giới. Trong khi bình quân chung của thế giới là 4000 m/người thì ở Việt Nam chỉ khoảng 1000 m/người. Là một nước còn chậm phát triển với hơn 70% dân số còn tập trung ở khu vực nông thôn, đất đai là điều kiện sống còn của một bộ phận lớn dân cư.
Vì vay, dé bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, đáp ứng nhu cau về lương thực, thực phẩm cho xã hội thì vẫn dé bảo vệ và phát triển quỹ đất nông nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Từ trước tới nay, các quy định của pháp luật đất đai và các chính sách về nông nghiệp luôn dành sự ưu tiên đối với việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân. - Nguyên tắc sử dụng đất đai hợp lý và tiết kiệm: Việt Nam tuy vốn dat không lớn, song nhìn vào cơ cau sử dụng đất hiện nay, khi mà đất chưa sử dụng còn chiếm khoảng 30% diện tích tự nhiên thì có thể nhận xét rằng, chúng ta còn rất lãng phí trong việc khai thác, sử dụng tiềm năng đất đai. Vì vậy, với quá trình phát triển của đất nước, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cần đi trước một bước tạo cơ sở khoa học cho việc sử dụng đất một cách hợp lí và tiết kiệm.
- Nguyên tắc thường xuyên cải tạo và bồi bồ đất dai: Đất đai tự nhiên đưởi bàn tay lao động và sáng tạo của con người sẽ tạo ra những sản phẩm quan trọng trong đời sống và mảnh dat đó thực sự có giá trị .Nếu so sánh với một mảnh đất không có lao động kết tinh của con người thì mảnh đất đó là hàng hóa không có giá trị. Tuy nhiên, đất đai có đời sông sinh học riêng của nó. Nếu con người tác động với thái độ làm chủ, vừa biết khai thác, vừa cải tạo nó thì đất đai luôn mang lại hiệu quả kết tinh trong sản phẩm lao động của con người. Ngược lại, nêu con người bạc đãi thiên nhiên, tắc động vào nó với một cách thiêu ý thức thì kêt 17 quả mang lại cho chúng ta nhiều tiêu cực.
Vì vậy, việc giữ gìn, bảo vệ nguồn tài nguyên đất nhắc nhở con người biết khai thác nhưng cũng thường xuyên cải tạo và bồi bé dat đai vì mục tiêu trước mắt và lợi ích lâu dài. Kế hoạch sử dụng dắt. Kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian dé thực hiện trong kì quy hoạch. Quản lý, sử dung đất đai có hiệu quả, tiết kiệm là nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước, là yếu tố quyết định sự phát triển một cách bền vững của nền kinh tế, đảm bảo mục tiêu ôn định CT - XH.
Kế hoạch sử dụng đất đóng vai trò quan trọng đối với việc quản lý đất đai, thể hiện quyền của chủ sở hữu về đất đai; Luật Đất đai năm 2013 nêu rõ nguyên tắc sử dụng đất phải đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy định căn cứ dé giao đất, cho thuê đất phải dựa vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Thông qua kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất đã góp phần đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Kế hoạch sử dụng đất giúp nhà nước nắm chắc quỹ đất, đảm bảo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi dat, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đưa công tác quản lý đất đai ở các địa phương đi vào nề nếp. Đồng thời đảm bảo cho việc chủ động dành quỹ đất hợp lý cho phát triển của các ngành, các lĩnh vực, đáp ứng nhu cầu đất đai cho xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội, xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, thương mại, dịch vụ, khu dân cư,.
góp phần quan trọng thúc đây quá trình phát triển kinh tế, giữ vững ồn định tình hình xã hội đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.