Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE TAI BẢO HIEM 1. Tổng quan về thị trường tái bảo hiểm Có thể nói những hình thức sơ khai nhất của bảo hiểm được hình thành từ khá lâu trong lịch sử loài người do nhu cầu khách quan của cuộc sống. Ngay từ thời kì cổ đại, việc hình thành các kho dự trữ lương thực để phòng ngừa kha năng mat mùa hay chiến tranh được xem như là những nên tảng cơ bản của hoạt động bảo hiểm. Bảo hiểm hàng hải xuất hiện ở Châu Âu là loại hình bảo hiểm đầu tiên trên thế giới.
Sau khi các công ty bảo hiểm ra đời thì bên cạnh nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải, nghiệp vụ bảo hiểm chủ yếu của các công ty này là bảo hiểm hỏa hoạn do các ngôi nhà vào đầu thế ki XVII hầu hết được xây bang gỗ. Đến giữa thé ki XVII, người ta cũng lập ra các quỹ tương hỗ dé cung cấp dịch vụ bảo hiểm nhân thọ cho công chúng. Ban đầu, hoạt động bảo hiểm ra đời với nhu cầu 6n định sản xuất kinh doanh với chức năng chủ yếu là phòng ngừa khắc phục những rủi ro, mọi tai nạn bất ngờ. Người ta chưa nghĩ tới các tổ chức bảo hiểm như là một tổ chức tài chính trung gian thì nay các công ty bảo hiểm được coi như là một tô chức tài chính vừa được coi là một công ty hoạt động ở đa lĩnh vực.
Bảo hiểm có thé được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, theo luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (ban hành ngày 09/12/2000) thì “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Bảo hiểm được xem là một phương thức đề xử lý rủi ro thông qua việc dự trữ đề phòng rủi ro, chuyền giao, phân tán rủi ro nhằm đảm bảo an toàn cho sản xuất, đời sống và con người trong xã hội. Ngày nay trên thế giới với một nền kinh tế thị trường phát triển thi bảo hiểm thực sự đi vào từng lĩnh vực của đời sông kinh tê xã hội với các sản phâm hét sức đa dạng và phong phú. 9 SV: Nguyễn Thị Phương Anh Lớp: Bảo hiểm 56 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS.
Phan Anh Tuấn 1. Khái niệm tái bảo hiểm Tái bảo hiểm là một loại nghiệp vụ mà nhà bảo hiểm sử dụng để chuyển một phần trách nhiệm đã chấp nhận với người được bảo hiểm cho nhà bảo hiểm khác, trên cơ sở nhượng lại cho nhà bảo hiểm đó một phan chi phí bảo hiểm thông qua hợp đồng tái bảo hiểm. Thực tế tái bảo hiểm được hình thành trên cơ sở bảo hiểm gốc nên nó luôn gắn liền với nghiệp vụ bảo hiểm gốc. Người ta thường nói “tái bảo hiểm chính là bảo hiểm cho các nhà bảo hiểm” bởi những tổn thất mà các công ty bảo hiểm phải gánh chịu đã được dàn trải ra.
Có thé nói, bản chất của tái bảo hiểm chính là sự bảo hiểm mới, được thực hiện bởi một hợp đồng bảo hiểm mới cho cùng một rủi ro đã được bảo hiểm trước nhằm bồi thường cho người bảo hiểm đối với những cam kết trước đó của họ và hai hợp đồng diễn ra cùng thời gian. Tái bảo hiểm được chia thành hai phần là Nhượng tái bảo hiểm và Nhận tái bảo hiểm. Nhượng tái bảo hiểm (Outward Reinsurance) là việc doanh nghiệp bảo hiểm chuyên một phan hay toàn bộ rủi ro đã nhận tái bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác hay tô chức bảo hiểm ở nước ngoài. Trong trường hợp này, công ty bảo hiểm gốc phải chuyển một phan phí cho các công ty tái bảo hiểm và nhận được từ họ yếu tố đảm bảo và 6n định kinh doanh của mình.
Quá trình ngược lại gọi là Nhận tái bảo hiểm (Inward ReInsurance). Sự cần thiết của tái bảo hiểm Một công ty bảo hiểm cũng giống như các loại hình công ty khác, được thành lập với một số vốn nhất định nên do đó phải chịu trách nhiệm với phần vốn của mình đối với mọi hoạt động kinh doanh trên thị trường. Và kéo theo đó thì khả năng nhận bảo hiểm của một công ty bảo hiểm cũng bị giới hạn trong phạm vi số vốn này. Chính vì vậy, trong quá trình kinh doanh bảo hiểm, các công ty bảo hiểm luôn bị de doa bởi sự phá sản vì những lí do sau đây: 10 SV: Nguyễn Thị Phương Anh Lớp: Bảo hiểm 56 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS.
Phan Anh Tuấn - Có những đối tượng tham gia bảo hiểm với số tiền bảo hiểm quá lớn, vượt quá khả năng tài chính của công ty, do đó nếu chấp nhận rủi ro và khi tốn thất xảy ra chắc chan công ty sẽ bị phá sản. - Khi những rủi ro được bảo hiểm xảy ra liên tục trong một thời gian ngắn, khi đó công ty bảo hiểm không có đủ khả năng dé đánh giá kiểm soát rủi ro, công tác chi trả, bồi thường cũng không thể làm một cách chặt chẽ và khi đó, khả năng phá sản của công ty là rất lớn. - Đối với những công ty bảo hiểm mới thành lập, mạng lưới đại lý chưa rộng và thiếu kinh nghiệm, các khâu chưa hoàn chỉnh cũng rat dé bị phá sản. - Có những trường hợp thì phương pháp tính phí chưa thật chuẩn xác vì có những rủi ro mới xuất hiện, ngành bảo hiểm chưa có số liệu thống kê đầy đủ hoặc không có đủ khả năng đề quản lý rủi ro nên chưa có biện pháp quản lý hữu hiệu.
Đứng trước thực trạng này, dé đảm bảo hoạt động kinh doanh có hiệu quả mà vẫn có thé nhận được những hop đồng có giá trị lớn, các công ty bảo hiểm phải liên kết với nhau dé phân tán bớt phần rủi ro mà mình có thé gặp phải trong hợp đồng bảo hiểm đã nhận. Phương pháp thường được các công ty bảo hiểm sử dụng là Đồng bảo hiểm và Tái bảo hiểm. So sánh dong bảo hiểm và tái bảo hiểm Giống nhau: Cả hai đều là phương pháp phân tán rủi ro, chuyên rủi ro có thé xảy ra đối với người tham gia bảo hiểm sang người bảo hiểm hoặc giữa các nhà tái bảo hiểm. Khác nhau: - Về điểm xuất phát: Tái bảo hiểm xuất phát từ người bảo hiểm.
Đồng bảo hiểm xuất phát từ người tham gia bảo hiểm. 11 SV: Nguyễn Thị Phương Anh Lớp: Bảo hiểm 56 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Phan Anh Tuấn - Về tính chịu trách nhiệm: Trong khi tái bảo hiểm chịu trách nhiệm đối với công ty bảo hiểm gốc thì đồng bảo hiểm chịu trách nhiệm trước người tham gia bảo hiểm. - Về các bên tham gia: Tái bảo hiểm có thé chỉ cần một nhà tái bảo hiểm hoặc nhiều hơn.
Còn đồng bảo hiểm phải có ít nhất hai nhà bảo hiểm trở lên. - Về cách giải quyết khi có tổn thất xảy ra: Tái bảo hiểm có thé huy động vốn bồi thường một cách nhanh chóng, công ty tái bảo hiểm có thể trích trước dé giải quyết sự có. Đồng bảo hiểm huy động vốn thường rất khó khăn và mắt nhiều thời gian gây trở ngại cho người tham gia bảo hiểm. Vai trò của tái bảo hiểm 1.
Dưới góc độ vi mô (đối với các doanh nghiệp) Thứ nhất, tái bảo hiểm giúp nhà bảo hiểm có thé khai thác được các rủi ro lớn hơn nhiều so với năng lực tài chính cho phép của mình. Thực tế gánh chịu rủi ro yêu cầu phải luôn có sự hỗ trợ về tài chính nhưng tài chính của các nhà bảo hiểm lại chỉ có giới hạn, trong khi tái bảo hiểm là một cơ chế mà các nhà bảo hiểm có thể tiếp cận các nguỗn tài chính hoặc nguồn dự phòng của các nhà nhận tái bảo hiểm vì họ cam kết nhận một phan rủi ro thì cũng cam kết cung cấp tài chính cho những rủi ro này khi có ton thất. Nhờ đó nhà bảo hiểm có thé tăng cường được năng lực khai thác của mình. Thứ hai, rủi ro thảm họa luôn là vấn đề lo lắng nhất, có thể gây hậu quả thảm khốc cho nhà bảo hiểm khi các đối tượng bảo hiểm đồng loạt tôn thất.
Đề giải tỏa được lo lắng này thì tái bảo hiểm lại là công cụ tốt nhất bảo vệ nhà bảo hiểm luôn an toàn về tài chính trong mọi trường hợp. Thứ ba, tái bảo hiểm giúp ôn định kết quả hoạt động kinh doanh bằng cách giảm thiểu các biến động lớn của kết quả thực tế cho gần các giá trị mong đợi nhằm bảo vệ giá tri của các cô đông trong công ty bao hiêm. 12 SV: Nguyễn Thị Phương Anh Lớp: Bảo hiểm 56 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Phan Anh Tuấn Thứ tư, trong những trường hợp nhất định, tái bảo hiểm có thé cung cấp một lợi ích kinh tế cụ thé dưới dang hoa hồng nhận được từ nhà nhận tái bảo hiểm.
Day là một hình thức thu hôi theo tỷ lệ từ các nhà nhận tái bảo hiểm đối với chi phí khai thác bảo hiểm mà nhà bảo hiểm đã bỏ ra để có được dịch vụ. Trong trường hợp nhà bảo hiểm quản lý rủi ro tốt khiến các nhà nhận tái bảo hiểm có lãi từ hợp đồng nhận tái, một phần tiền lãi sẽ được hoàn lại cho các nhà bảo hiểm, điều này sẽ làm cho kết quả kinh doanh ròng của nhà bảo hiểm thêm phan tốt hơn. Thứ năm, tái bảo hiểm là công cụ quản lý tài chính. Dé bảo vệ khách hàng, luật bảo hiểm yêu cầu phải duy trì một tỷ lệ nhất định tính trên tài sản đối với các trách nhiệm cam kết dé dam bảo biên khả năng thanh toán.
Tái bảo hiểm thực tế sẽ làm giảm phí bảo hiểm giữ lại, nhờ đó giúp tăng biên khả năng thanh toán dé đáp ứng các yêu cầu của pháp luật. Dưới góc độ vĩ mô (đối với ngành bảo hiểm) Thứ nhất, tái bảo hiểm làm tăng mức độ an toàn cho nhà bảo hiểm, làm ổn định trong dài hạn đối với ngành bảo hiểm. Thứ hai, tái bảo hiểm trong một tình huống cụ thê có thể chia nhỏ rủi ro và phân tán cho rất nhiều nhà nhận tái bảo hiểm, nhờ đó những rủi ro vô cùng lớn có thể được bảo hiểm một cách an toàn và chắc chắn, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngành công nghiệp đó.