Chương 1 TỐNG QUAN TÀI LIỆU 1 .Một số khái niệm 1. Giám sát y tế công cộng Giám sát y tế công cộng là việc thu thập một cách có hệ thống, liên tục, phân tích, giải thích, và phổ biến những thông tin sức khỏe[14]. Người ta sử dụng dữ liệu giám sát để mô tả và theo dõi những sự kiện sức khỏe trong xác lập ưu tiên, lập kế hoạch, thực hiện, đánh giá những can thiệp và chương trình YTCC. Giám sát y tế công cộng là một phương pháp mà các tổ chức YTCC sử dụng để theo dõi tình trạng sức khỏe của các cộng đồng mà họ phụ trách.
Mục đích của giám sát YTCC là cung cấp các thông tin thực tế, chính xác cho những tẻ chức này để họ có thế đật ra những ưu tiên phù hợp, những kế hoạch cũng như những hoạt động thích họp nhằm tăng cường và bảo vệ sức khỏe cộng đồng[14]. Những hệ thống giám sát thường được coi là những vòng tròn thông tin bao gồm cả những người cung cấp dịch vụ, những tổ chức YTCC, và người dân như (hình 1). Vòng tròn dưới đây sẽ được khép kín khi những thông tin về những trường hợp bệnh được thông báo cho những người chịu trách nhiệm phòng và khống chế bệnh cùng những người cần biết khác. Do những người cung cấp dịch vụ, những tổ chức y tế, cộng đồng đều có một số trách nhiệm trong việc phòng và khống chế bệnh.
Họ sẽ phải nằm trong số những người nhận thông tin phản hồi từ hệ thống giám sát thông tin. Tùy thuộc vào từng tình huống, những người cẩn biết thông tin khác bao gồm cả nhũng những cơ quan thuộc chính phù khác (như đại dịch cúm A H1N1 hiện nay là một ví dụ), những cá thể phơi nhiễm tiềm tàng, nhũng người chịu trách nhiệm quản lý, những người sản xuất vacxine, những tổ chức tình nguyện tư nhân, những người làm công tác lưu trữ và hàng loạt những người khác. Hệ thống giám sát ngày nay có nhiều hình thức khác nhau. Loại lâu đời nhất là loại giám sát việc xảy ra những bệnh truyền nhiễm thông qua những báo cáo bắt buộc của các bác sỹ, kỹ thuật viên xét nghiệm và bệnh viện.
Những người kiểm soát 8 nhiễm trùng trong bệnh viện hoạt động với vai trò như những người làm công tác thuế quan tiến hành những hoạt động giám sát trong bệnh viện và thòng báo những trường hợp phải khai báo cho các quan chức YTCC. Xử lý sổ liệu Sử dụng kết quả để lập kế hoạch dự Phiên giải số liệu phòng và điều trị Đối tượng khác NGOs, tổ chức tư nhân Các tổ chức y tế Bộ, ngành khác Tổ chức quốc tế Hình 1 : Thông tin về chu trình chăm sóc sức khỏe từ hệ thống giám sát 9 1. Giám sát bệnh truyền nhiễm Giám sát BTN là việc thu thập thông tin liên tục, có hệ thống về tình hình và chiều hướng của bệnh truyền nhiễm, phân tích, giải thích nhằm cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch, triển khai và đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng chống BTN. Dịch là sự xuất hiện BTN với số người mắc bệnh vượt quá số người mắc bệnh dự tính bình thường trong một khoảng thời gian xác định ở một khu vực nhẩt định.
Vùng có dịch là khu vực được cơ quan có thẩm quyền xác định có dịch Bệnh truyền nhiễm (BTN): là bệnh lây truyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ người hoặc từ động vật sang người do tác nhân gây BTN[9]. Giám sát bệnh truyền nhiễm tuyến huyện được hiểu là công tác thu thập, phân tích , báo cáo và xử lý bước đầu đối với các thông tin về bệnh truyền nhiễm trong địa bàn huyện. Theo quy định các thông tin này phải thu thập từ tất cả các nguồn trong huyện nhưng do giới hạn của kinh phí nghiên cứu này chỉ đánh giá hoạt động giám sát bệnh truyền nhiễm của hệ thống y tế công. Hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm ở Việt Nam hiện nay Hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm gây dịch của Việt Nam hiện đang hoạt động theo quyết định số 4880/2002/QĐ- BYT ngày 06/12/2002 của Bộ trưởng Bộ y tế.
Đây là hệ thống giám sát thường xuyên và thống nhẩt trên toàn quốc từ xã phường lên đến tuyến trung ương, có nhiệm vụ giám sát phát hiện và báo cáo về 26 bệnh truyền nhiễm. Hệ thống hiện hành đã được thực hiện từ lâu với chức năng báo cáo thường kỳ (hàng tuần, hàng tháng, hàng quý, hàng năm). Một số đặc điểm thuận lợi cho hệ thống giám sát các bệnh truyền nhiễm là nước ta có mạng lưới y tế cơ sở rộng khắp hoạt động từ nhiều năm nay, từ tuyển trung ương đến tận phường/xã[7]. Ngoài ra còn có một sổ chương trình giám sát dịch tễ học hoạt động khá tốt như chương trình giám sát bại liệt ở trẻ em; chương trình giám sát bệnh uốn ván trẻ sơ sinh (nằm trong chương trình Tiêm chủng mở rộng); chương trình giám sát HIV/AIDS, chương trình phòng chống sốt xuất huyết.
Mục đích của giám sát bệnh truyền nhiễm là phát hiện sớm, đầy đủ, chính xác các bệnh truyền nhiễm gây dịch trong cộng đồng, truyền tải thông tin giảm sát kịp thời, 10 giúp các cơ quan chức năng ra quyết định phòng chống dịch hiệu quả. Do vậy hoạt động cụ thể của hệ thống phải - Thu thập đầy đủ, chính xác, sớm và nhanh các số liệu mắc và chết do bệnh truyền nhiễm ở tất cả cộng đồng dân cư. - Phân tích và phiên giải sổ liệu giám sát để nắm được các đặc điểm và nguyên nhân cùng sự phân bổ dịch tễ của bệnh dịch theo thời gian, địa điểm, nhóm dân cư. - Báo cáo và chuyển tải thông tin giám sát tới những người, những cơ quan có trách nhiệm kiếm soát, PCD của cộng đồng dân cư.
- Giúp cho việc xây dựng kế hoạch PCD và ra các quyết định đáp ứng đúng đắn và có hiệu quả. Hiện nay hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm của Việt Nam vẫn hoạt động theo sơ đồ sau: Hình 2. So’ đồ hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam 12 Hệ thống này có nhiệm vụ phát hiện sớm và báo cáo tất cả 26 bệnh truyền nhiễm trong danh mục theo quy định sau: Thông tin, báo cáo dịch khẩn cấp: Trong vòng 24 giờ hoặc nhanh nhất có thể từ khi phát hiện các bệnh, hội chứng thuộc diện kiểm dịch quốc tế, các bệnh truyền nhiễm bệnh truyền nhiễm thuộc diện quản lý có sổ mắc hoặc tử vong cao bất thường(biểu hiện thành dịch), các bệnh lạ chưa rõ nguyên nhân tại địa phương, các cơ sở y tế phải báo cáo khẩn cấp lên cơ quan y tế cấp trên và báo cáo vượt cấp lên Bộ Y tế (Cục Y tế Dự phòng và Môi trường: Cục YTDP&MT) Viện vệ sinh dịch tễ khu vực hoặc Trung ương bằng điện thoại, fax, email. Nêu rõ thời gian, địa điểm, số trường họp mắc, tử vong, đồng thời báo cáo việc triển khai các biện pháp chống dịch, sau đó tiếp tục báo cáo hàng ngày về diễn biến tình hình dịch cho đến hết dịch.
Báo cáo bênh truyền nhiễm gây dịch tuần Hàng tuần các trung tâm y tế dự phòng tỉnh phải báo cáo bệnh truyền nhiễm gây dịch tại địa phương trên cơ sở tổng hợp các báo cáo từ tuyển dưới lên viện vệ sinh dịch tễ trung ương hoặc khu vực, các nơi này báo cảo về bộ y tế (Cục YTDP&MT); Trong báo cáo phải nêu rõ số mắc, tử vong, nguyên nhân gây bệnh, nhận định diễn biến tình hình bệnh truyền nhiễm gây dịch, các biện pháp đã triển khai, các đề nghị nếu có, báo cáo ghi rõ tuần thứ bao nhiêu trong năm. Trong tuần không có trường họp nào mắc cũng phải báo cáo theo mẫu quy định. Nếu có sổ liệu bổ xung, điều chỉnh báo cáo tuần trước thì phải ghi rõ tại mục ghi chú. Báo cáo bênh truyền nhiễm gây dich tháng Hàng tháng, hệ thống giám sát từ địa phương tổng hợp số liệu bệnh truyền nhiễm gây dịch trong diện quản lý của địa phương mình, báo cáo lên tuyến cao hơn lần lượt là: Xã- Huyện- Tỉnh -Viện vệ sinh dịch tễ - Bộ y tế.
Nếu có số liệu bồ xung thì phải ghi rõ tại mục ghi chú[4]. Hoạt động đáp úng phòng chống dịch là một hoạt động thường quy của hệ thổng y tế dự phòng có hoạt động giám sát tot các nguy cơ dịch thì đáp ứng phòng chống mới hiệu quả. 13 Nội dung của đáp ứng phòng chống về mặt kỹ thuật phải bao gồm: Xử lý ca bệnh, nghiên cứu điều tra ca bệnh, cảnh báo cộng đồng, giám sát các đối tượng nguy cơ, can thiệp khống chế, dập tắt ổ dịch. Để cho hoạt động này được thực hiện tốt thì công tác chỉ đạo, tổ chức PCD phải tập chung được vào một đầu mối là ban chỉ đạo phòng chống dịch và chính quyền phải chỉ đạo trực tiếp như luật phòng chống bệnh truyền nhiễm đã quy định ở điều 6 mục 1, 4.
Chính vì vậy trong nghiên cứu đánh giá hoạt động phòng chống dịch chúng tôi chỉ xem xét đến vẩn đề chỉ đạo tổ chức thực hiện phòng chống dịch chứ không đi sâu vào kỳ thuật phòng chống dịch cụ thể. Hoạt động giám sát và đáp ứng phòng chống dịch tại tuyến huyện. Tuyến huyện là tuyến cơ sở quan trọng nhất trong hệ thống các cơ sở giám sát BTN vi đây là mắt xích cuối của hoạt động triển khai các biện pháp thể kiểm soát và khống chế dịch, hướng dẫn giám sát chuyên môn kỳ thuật về các hoạt động đối với các TYT xã/thị trấn và các cơ sở y tế trên địa bàn[17]. Để tuyến cơ sở hoạt động đúng chức năng giám sát và PCD cần đạt được các tiêu chí sau: - Duy trì các hoạt động thu thập số liệu giám sát định kỳ một cách kịp thời.
- Sử dụng khả năng xét nghiệm địa phương chuẩn đoán những ca bệnh nghi ngờ. - Lấy bệnh phẩm và chuyển đi xét nghiệm đối với những ca bệnh khó. - Tập huấn cho cán bộ tuyển dưới sử dụng các định nghĩa chuẩn về bệnh khi xác định và báo cáo những ca mắc bệnh trạng quan trọng. - Hướng dẫn cán bộ các cơ sở y tể về thời gian, cách thức báo cáo những bệnh trạng quan trọng.
- Báo cáo khẩn cẩp cảc trường hợp mắc những bệnh cần khai báo ngay cho tuyến tỉnh. - Tập hợp các số liệu từ các cơ sở y tể tuyển dưới. - Phân tích số liệu theo biến số con người, địa điểm, thời gian - So sánh số liệu hiện tại với số liệu giai đoạn trước. - Lập bảng biểu, đồ thị và thường xuyên cập nhật số liệu để mô tả nhũng bệnh trạng được báo cáo theo các biển sổ thời gian, con người, địa điểm.