Chương 1: Khái quát về Fintech và những vấn đề pháp lý về Fintech ở Việt Nam Chương 2: Thực tiễn hoạt động của Fintech ở Việt Nam hiện nay và những thách thức đối với ngân hàng truyền thống Chương 3: Những căn cứ và các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động của Fintech tại Việt Nam Phần kết luận Danh mục tài liệu tham khảo 5 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ FINTECH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ FINTECH Ở VIỆT NAM 1. Những vấn đề chung về Fintech 1.1 Những yếu tố tác động dẫn đến việc hình thành Fintech Thứ nhất, tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 tới niềm tin vào hệ thống ngân hàng và dịch vụ tài chính truyền thống. Khi gã khổng lồ tài chính Lehman Brothers đột ngột nộp đơn xin phá sản vào ngày 15 tháng 9 năm 2008, giới tài chính đã bị chấn động5, dẫn tới sự mất tin tƣởng của thị trƣờng vào những ngân hàng lớn. Sự rạn nứt trong niềm tin đối với dịch vụ ngân hàng truyền thông đã tạo ra một kẽ hở lớn, ƣơm mầm cho sự phát triển của Fintech.
Tuy nhiên, đây chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Thứ hai, việc hình thành các quy định mới của pháp luật mang tính hỗ trợ, tạo điều kiện cho sự phát triển của Fintech6. Khủng hoảng năm 2008 làm gia tăng các quy định bắt buộc để đảm bảo an toàn hệ thống, ngăn chặn việc nhiều ngân hàng không đáp ứng đƣợc các nhu cầu của khách hàng, đồng thời chi phí hoạt động của các định chế tài chính truyền thống có xu hƣớng tăng, hệ thống hoạt động thiếu linh hoạt, thiếu minh bạch và ẩn chứa nhiều tiêu cực. Thứ ba, sự thay đổi về kỳ vọng của khách đối với dịch vụ tài chính.
Dƣới những chuyển biến của khoa học và công nghệ kỳ vọng của khách hàng khi sử dụng các sản phẩm tài chính nói chung có những thay đổi tƣơng đối. Kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ tài chính không chỉ dừng lại ở chất lƣợng, tốc độ và độ tin cậy mà xa hơn là những trải nghiệm mới mẻ, thú vị, khép kín và có tính khác biệt. Vấn đề này đặt ra yêu cầu xây dựng một “hệ sinh thái fintech” mà ở đó mọi nhu cầu của khách hàng có thể đƣợc đáp ứng đồng bộ, tiện lợi, tiết kiệm và hoàn hảo giống nhƣ những trải nghiệm của họ đối với các sản phẩm của công nghệ quen thuộc nhƣ Google, Amazon, Facebook và Apple7. Thứ tƣ, rào cản gia nhập thị trƣờng đối với các công ty Fintech tƣơng đối thấp.
Khả năng gia nhập thị trƣờng của công ty Fintech đƣợc mở rộng hơn do (i) tiết kiệm 5 Jonathan Stempel (2022), After 14 years, Lehman Brothers‟ brokerage ends liquidation, Reuters Magazine. (Truy cập ngày 22/02/2022 tại: www.com/markets/us/after-14-years-lehman-brothers-) 6 Rob Braileanu (2018), “How the global financial crisis gave birth to Fintech”, Revolut Magazine (truy cập ngày 22/02/2023 tại https://blog.com/how-the-global-financial-crisis-gave-birth-to-fintech/ 7 ThS. Lƣu Ánh Nguyệt (2022), “Xu hƣớng phát triển của công nghệ tài chính và một số tác động tới thị trƣờng tài chính”, Cổng thông tin điện tử Bộ Tài Chính (truy cập ngày 13/2/2023 tại https://mof.vn/webcenter/portal/btcvn/pages_r/l/tin-bo-tai-chinh?dDocName=MOFUCM110906) 6 đƣợc chi phí đầu tƣ khi tận dụng lợi thế của công nghệ và các dịch vụ sẵn có trên điện toán đám may, giao diện lập trình ứng dụng (API) và (ii) khả năng tiếp cận với các nguồn vốn đầu mạo hiểm ngày một thuận lợi. Riêng tại thị trƣờng Việt Nam, bất chấp những biến động thị trƣờng do đại dịch Covid-19 gây ra, vốn đầu tƣ mạo hiểm cho các startups năm 2021 vẫn đạt mức cao kỉ lục với tổng số tiền đầu tƣ là 1,4 tỉ USD.
Năm 2022, thế giới chứng kiến sự tăng vọt về số lƣợng kỳ lân (startups tỉ đô), từ 110 kỳ lân năm 2021 lên gần gấp đôi là 219. Fintech cũng là ngành ghi nhận mức tăng trƣởng đầu tƣ cao nhất trong năm, tăng 270%8. Theo trang tin Forbes, thị trƣơng vốn đầu tƣ mạo hiểm cho Fintech dự kiến sẽ có sự tăng trƣởng trong năm 20239. Thứ năm, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ mới.
Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, sự phủ sóng cao độ của mạng xã hội và nhiều phát kiến ứng dụng mới nhƣ trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ chuỗi khối (block chain), dữ liệu lớn (Big data) hay Internet vạn vật (IoT), Fintech đƣợc tạo điều kiện để phát triển hơn bao giờ hết. Bên cạnh đó các ứng dụng điện tử, mô hình hỗ trợ vốn từ thị trƣờng và marketing đã tạo nên một lợi thế cạnh tranh lớn cho Fintech so với các nền tảng tài chính truyền thống. Riêng tại Việt Nam, đây đƣợc xem là mảnh đất màu mỡ để phát triển Fintech nhờ việc áp dụng nhanh chóng công nghệ, mức sử dụng điện thoại thông minh cao, tỷ lệ sử dụng internet tăng,… Bên cạnh đó, là quốc gia nằm trong khu vực ASEAN - khu vực đang đƣợc ghi nhận là nền kinh tế có tốc độ tăng trƣởng tốt, là một trong những khu vực phát triển cực kỳ năng động và dễ dàng thích nghi với những tiến bộ công nghệ mới. Đồng thời, liên quan đến hoạt động quản lý tài chính, Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với nhiều lỗ hổng lớn do đó nhu cầu để tiếp cận những dịch vụ quản lý an toàn, hiện đại hơn đang ngày một gia tăng10.
Cuối cùng, Fintech đang nhận đƣợc những sự hỗ trợ đến từ Chính phủ thông qua các khoản hỗ trợ dành cho các công ty khởi nghiệp hay từ các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong việc xem xét lại khuôn khổ pháp lý về lĩnh vực này. Chính những lý do trên mà Việt Nam đang là một thị trƣờng đầy tiềm năng cho các công ty Fintech tiếp cận và khai thác. 8 Huyển Trang (2023), “Fintech vẫn tiếp tục „đón lõng‟ vốn đầu tƣ mạo hiểm trong năm 2023”, Tạp chí Doanh nhân trẻ, (truy cập ngày 13/2/2023 tại https://doanhnhantrevietnam.vn/fintech-van-tiep-tuc-don-long-von-dau-tu-mao- hiem-trong-nam-2023-d18289.html) 9 Jeffrey Bartel (2023), “Venture Capital Market Growth Projections For 2023”, Forbes Magazine, (truy cập ngày 22/02/2023 tại https://www.com/sites/forbesfinancecouncil/2022/09/27/fintech-venture-capital-market- growth-projections-for-2023/?sh=1efc48f623b2) 10 Phạm Hoài Nam (2022), “Phát triển công nghệ tài chính - xu hƣớng, động lực và cơ hội cho Việt Nam”, Tạp chí Công Thƣơng, (truy cập ngày 22/02/2022 tại: https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/phat-trien-cong-nghe-tai-chinh- xu-huong-dong-luc-va-co-hoi-cho-viet-nam-90382.2 Khái niệm và đặc điểm của Fintech 1.1 Khái niệm về Fintech Fintech là từ viết tắt của Financial Technology – Công nghệ tài chính. Đây là sự kết hợp giữa thuật ngữ Finance (tài chính) và Technology (công nghệ).
Theo đó, Tài chính có thể hiểu là phƣơng thức huy động, phân bổ và sử dụng nguồn tiền nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế - xã hội. Hiểu đơn giản, tài chính biểu hiện qua việc quản lý và sử dụng khoản tiền của tổ chức, các nhân một cách khoa học để đáp ứng nhu cầu của chủ thể đó. Đó có thể là đầu tƣ, vay, cho vay, tiết kiệm,… Theo các cam kết mở cửa thị trƣờng của Việt Nam trong WTO và EVFTA, ngành dịch vụ tài chính của Việt Nam bao gồm 3 phân ngành: bảo hiểm, ngân hàng và chứng khoán11. Còn công nghệ là việc vận dụng kiến thức khoa học và kỹ thuật để cải tiến chất lƣợng sản phẩm và quá trình sản xuất.
Nhƣ vậy, công nghệ tài chính - fintech hiểu đơn giản là việc áp dụng những ứng dụng hay sáng tạo trong công nghệ kỹ thuật hiện đại vào lĩnh vực tài chính. Trong giai đoạn đầu, Fintech thƣờng đƣợc dùng để mô tả quá trình ứng dụng các công nghệ mới nhằm tự động hóa việc cung ứng và sử dụng dịch vụ tài chính12. Hiện nay, thuật ngữ này đã đƣợc mở rộng với nhiều ý nghĩa khác nhau và chƣa có một định nghĩa thống nhất chung về Fintech. Theo Dorfleitner và cộng sự13 (2017), Fintech biểu thị các công ty hoặc đại diện của nó cung cấp các dịch vụ tài chính kết hợp với các công nghệ hiện đại và sáng tạo.
Ngoài ra, Dorfleitner và cộng sự cũng đƣa ra những mô tả chung về đặc điểm của Fintech và liệt kê phân khúc riêng lẻ tạo nên thị trƣờng Fintech.14 Trong một nghiên cứu của Ban Ổn định Tài chính15 (FSB, 2017) bàn về những hàm ý chính sách nhằm ổn định tài chính từ Fintech, Fintech đƣợc định nghĩa là sự đổi mới trong các dịch vụ tài chính đƣợc hỗ trợ bởi công nghệ dẫn đến các mô hình kinh doanh, các ứng dụng, quy trình hoặc sản phẩm mới có ảnh hƣởng trọng yếu đến việc cung cấp dịch vụ tài chính: “là các sáng tạo trong tài chính dựa trên nền tảng công nghệ 11 MUTRAP – VCCI (2017), EVFTA và các ngành dịch vụ tài chính Việt Nam, Hà Nội, tr. 5 (Truy cập ngày 16/03/2023, tại https://wtocenter.vn/file/16254/EU42-Financing. 12 Dƣơng Tấn Khoa (2022), “Fintech trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam”, Trƣờng Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, (1), tr. 13 Gregor Dorfleitner et.23 (truy cập ngày 24/02/2023 tại https://papers.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=2885931).
14 Trần Lƣơng Mộng Trinh (2021), “Fintech - xu hƣớng phát triển tài chính hiện đại”, Tạp chí Công thƣơng, (truy cập ngày 24/02/2023 tại https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/fintech-xu-huong-phat-trien-tai-chinh-hien-dai- 79847.htm) 15 http://www.org/about/, FSB là cơ quan quốc tế giám sát và đƣa ra các khuyến nghị về hệ thống tài chính toàn cầu, có thành viên là ngân hàng trung ƣơng hay cơ quan giám sát tài chính thuộc các nƣớc G20. 8 nhằm tạo ra các mô hình kinh doanh, ứng dụng, quy trình, hay sản phẩm mới có tác động cụ thể đến các thị trường và định chế tài chính, cũng như trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính”. Định nghĩa này cũng đƣợc sử dụng bởi Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF, 2018) trong nghiên cứu xem xét toàn cảnh sự phát triển của Fintech ở khu vực Trung Đông - Bắc Phi - Afghanista - Pakistan, Trung Á và Caucasas. Đối với Patrick Schueffel, sau khi xem xét hơn 200 nghiên cứu khoa học về thuật ngữ “Fintech” đã đƣa ra khái niệm khá toàn diện về Fintech: “là một ngành công nghiệp tài chính mới áp dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính” Nhƣ vậy, Fintech có thể bao hàm cả những ứng dụng, quy trình, sản phẩm hoặc mô hình kinh doanh mới trong dịch vụ tài chính, nhƣng tựu chung sẽ bao gồm yếu tố dịch vụ tài chính là cơ bản và đƣợc cung cấp trên nền tảng dịch vụ qua Internet.
Với lợi thế về công nghệ, các công ty Fintech cung ứng các dịch vụ ngân hàng với ứng dụng công nghệ hiện đại nhƣ thanh toán điện tử, gọi vốn từ cộng đồng (“GVCĐ”) hay cho vay ngang hàng (“CVNH”)… và đóng vai trò nhƣ tổ chức trung gian tài chính đúng nghĩa. Thực tế, khó có thể xây dựng một định nghĩa về Fintech để áp dụng cho tất cả các thực thể thƣờng đƣợc liên kết với thuật ngữ “Fintech”.