chương 1 nêu tổng quan nghiên cứu đề tài bao gồm: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, trong đó có mục tiêu tổng quát và cụ thể để có thể đưa ra các câu hỏi nghiên cứu và chọn ra yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định sử dụng VĐT của người dân Việt Nam – là đối tượng nghiên cứu cụ thể trong bài. Sau đó bài viết nghiên cứu dựa trên các dữ liệu thứ cấp và sơ cấp để đưa ra các ý chính đóng góp mà đề tài nghiên cứu mang lại. Bài viết đưa ra khung quy trình nghiên cứu và nêu ra phương pháp nghiên cứu như phương pháp thu nhập và xử lý dữ liệu theo SPSS 25 để đưa ra những kết quả chính xác và hợp lí nhất. Cấu trúc đề tài gồm 5 chương và nội dung chính của bài nghiên cứu được trình bày từ chương 2 đến chương 5.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƢỢC KHẢO CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. Thƣơng mại điện tử Thương mại điện tử (E – commerce) được xem là tập con của kinh doanh điện tử, chú trọng trong việc mua bán trực tuyến qua các công cụ điện tử và Internet, đáp ứng nhu cầu mua sắm của khách hàng ở công nghệ 4. Sau đây là một số khái niệm thương mại điện tử được định nghĩa bởi các tổ chức uy tín trên thế giới: Theo định nghĩa của Tổ chức Thương mại thế giới – WTO, “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, các sản phẩm giao nhận và thông tin số hóa đều thông qua mạng Internet”. Theo Ủy ban châu Âu: “Thương mại điện tử có thể định nghĩa chung là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân hay tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng máy tính trung gian.” Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) định nghĩa: “Thương mại điện tử liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm mang tính điện tử chủ yếu thông qua hệ thống nền tảng dựa trên Internet”.
Bên cạnh đó các thông tin liên lạc có thể là email, Internet, Extranet… đều có thể được dùng hỗ trợ cho thương mại điện tử. Tóm lại, thương mại điện tử được diễn ra trong môi trường kinh doanh điện tử giữa các nhóm hay cá nhân với nhau thông qua mạng Internet và các phương tiện công cụ điện tử. Khi công nghệ bùng nổ và dịch bệnh hoàn hành thì thương mại 8 9 điện tử có ảnh hưởng rất lớn đối với các NHTM. Thương mại điện tử phát triển, kéo theo việc mua bán trực tuyến trở thành xu thế thì con người giao dịch qua Internet và thanh toán điện tử trở nên được ưa chuộng vì nó giúp cho mọi thứ trở nên thuận tiện và nhanh chóng.
Bên cạnh đó có thể giúp cho con người hạn chế tiếp xúc, an toàn hơn với tình hình dịch bệnh Covid – 19. Vì vậy để giúp người dân Việt Nam thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt thì thương mại điện tử góp phần quan trọng. Ví điện tử (VĐT) Ví điện tử là một thuật ngữ dùng trong giao dịch thương mại điện tử, được phát triển một dạng dịch vụ cho phép người dùng Internet lưu trữ và sử dụng thông tin trong mua bán. Theo khoản 8 Điều 1 Nghị định 80/2016/NĐ – CP, dịch vụ điện tử là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tạo nên trên vật mang tin như chip điện tử, máy tính, sim điện thoại di động… cho phép lưu trữ giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi với số tiền được chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm báo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ điện tử theo tỷ lệ 1:1.
Nhưng gần đây thì VĐT được định nghĩa là tiền điện tử từ các tổ chức cung ứng trung gian thanh toán phát hành và định danh thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng mở tại NHTM. Ngoài ra VĐT còn được sử dụng dưới dạng dịch vụ có thể lưu trữ thông tin bảo mật của người dùng và sử dụng công nghệ mạng không dây để thực hiện giao dịch thay thế cho tiền mặt., & Aprianti, Y (2020) cho rằng ví điện tử được định nghĩa là một phương tiện thanh toán dưới dạng điện tử, nơi giá trị tiền được lưu trữ trong một số phương tiện điện tử. Trước tiên người dùng phải gửi tiền cho nhà cung ứng và tiết kiệm nó trên phương tiện điện tử trước khi sử dụng nó cho giao dịch. Khi được sử dụng, giá trị ví điện tử được lưu trong phương tiện sẽ giảm xuống và sau đó có thể được tăng thêm.
9 10 Ngoài ra, Upadhayaya, A (2012) cho biết ví điện tử là một ví kĩ thuật số cho phép người dùng tạo giao dịch thương mại điện tử nhanh chóng và an toàn. VĐT có thể gửi và nhận thanh toán ở mọi nơi trên thế giới, hữu ích cho việc sử dụng thường xuyên người mua sắm trực tuyến. Hiện nay, VĐT ngày càng phổ biến và phát triển. Với lượng người dùng khá lớn, khách hàng có thể chuyển tiền dễ dàng với mức phí khá rẻ với vài bước trên VĐT cực kỳ tiện lợi và nhanh chóng.
Đồng thời có thể sử dụng tiền trong ví hoặc rút về tài khoản ngân hàng hoàn toàn miễn phí, giúp cho tiền mặt lưu thông hạn chế tình trạng lạm phát ở các quốc gia. Ý định sử dụng Ý định là yếu tố được sử dụng để đánh giá khả năng hành vi của cá nhân, là dự định, kế hoạch gì đó được thực hiện trong tương lai. Theo Ajzen (1991), ý định mang tính thúc đẩy và thể hiện nỗ lực của cá nhân sẵn sàng thực hiện một hành vi cụ thể. Hay theo nghiên cứu của Zhao & Othman (2010) định nghĩa rằng ý định là một quá trình hành động mà một cá nhân muốn đạt được.
Và kết quả nghiên cứu của Pena – Garcia (2020) chỉ ra rằng ý định hành vi sẽ có ảnh hưởng tích cực đến việc sử dụng công nghệ. LƢỢC KHẢO CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. Nghiên cứu ngoài nƣớc Nghiên cứu “Các yếu tố quyết định việc chấp nhận Ví điện tử của Gen Y” ở Ấn Độ của Trivedi (2016) bằng phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình TAM và kết quả cho rằng gen Y (những người sinh từ năm 1980) đã chấp nhận được ví điện tử công nghệ ở Ấn Độ. Qua đó, tác giả cho rằng tính hữu ích và cách sử dụng dễ dàng của ví điện tử đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định sử dụng hệ thống thanh toán hiện đại của người dân.
Cũng như nghiên cứu “Sự chấp nhận ví điện tử ở Sabah: phân tích thực nghiệm” của Amin (2009) cũng áp dụng mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) trong bối 10 11 cảnh phát triển của ví điện tử, bằng cách bổ sung kiến thức về ví điện tử, khả năng biểu đạt cảm nhận và độ tin cậy bên cạnh tính hữu ích và dễ sử dụng. Từ đó, kết quả cho thấy những yếu tố về kiến thức, dễ sử dụng, sự hữu ích và tính biểu đạt được cảm nhận là những yếu tố quan trọng quyết định đến việc chấp nhận ví điện tử của người dân. Swilley (2010) qua nghiên cứu “Sự từ chối công nghệ: trường hợp của ví điện tử” đã thực hiện hai nghiên cứu bằng cách sử dụng các mẫu khác nhau, ban đầu là 226 sinh viên được lấy mẫu và sau đó khảo sát trực tiếp được thực hiện qua một hội đồng tiêu dùng với 480 cuộc khảo sát để thu nhập dữ liệu và đánh giá sự khác biệt. Kết quả cho thấy rằng ở yếu tố dễ sử dụng và hay hữu ích của ví điện tử không ảnh hưởng đáng kể đối với người tiêu dùng, mà là rủi ro về nhận thức sử dụng mới là đáng kể.
Ngoài ra, yếu tố bảo mật và quyền riêng tư cá nhân được cho là có ảnh hưởng tiêu cực đến với ý định sử dụng của người dân đối với ví điện tử. Nghiên cứu Mahran & Enaba (2013) cho thấy yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định sử dụng sản phẩm điện tử là kiểm soát hành vi được nhận thức và tính hữu ích được nhận thức, trong đó điều kiện thuận lợi ki sử dụng sản phẩm được quan tâm nhiều nhất. Dữ liệu thực nghiêm được thu nhập thông qua một cuộc khảo sát trực tuyến với 490 mẫu từ sinh viên ở Ai Cập. Kết quả nghiên cứu khác với kết quả nghiên cứu trước đó vì ảnh hưởng của nền văn hóa Ai Cập.
(2020) đã nghiên cứu mục đích kiểm tra ý định sử dụng ví điện tử của người dân và so sánh hai nước Indonesia và Malaysia trong thời kỳ đại dịch Covid – 19. Họ nghiên cứu bằng cách sử dụng phân tích đa nhóm nhằm xác định các tác động trực tiếp và gián tiếp của các rủi ro trong nhận thức người dân. Nghiên cứu này đã cho ra kết luận rằng sự rủi ro và tính hữu ích được nhận thức ở người dân ảnh hưởng trực tiếp đến ý định sử dụng ví điện tử trong thời gian bùng dịch Covid – 19, bên cạnh đó là sự hỗ trợ hoàn toàn được trung gian bởi tính hữu ích được nhận thức của Chính phủ đối với ý định sử dụng ví điện tử. Ngoài ra nghiên cứu còn tiết lộ sự khác biệt giữa Indonesia và Malaysia về ý 11 12 định sử dụng ví điện tử và sự hỗ trợ của Chính phủ.
Tóm lại, nghiên cứu đã nhấn mạnh trong thời kỳ đại dịch có thể thúc đẩy ý định sử dụng ví điện tử của người dân. Nghiên cứu trong nƣớc Nguyễn Cường, Nguyễn Trang và Trần Thảo (2020) đã nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử Momo tại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu là phân tích nhân tố khám phá và phân tích hồi quy tuyến tính. Sau kết quả thu nhập của cỡ mẫu bao gồm 280 người sử dụng ví điện tử Momo cho thấy rằng có năm yếu tố quan trọng như sự hiệu quả, tính dễ sử dụng, tác động của xã hội và độ tin cậy được cảm nhận và giá cả giao dịch, ảnh hưởng tích cực đến quyết định sử dụng ví điện tử Momo của người tiêu dùng.