Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ, thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành xu hướng toàn cầu. Tại Việt Nam, ví điện tử nổi lên như một phương thức thanh toán mới, hỗ trợ các giao dịch trực tuyến diễn ra nhanh chóng, chính xác và linh hoạt. Theo số liệu nghiên cứu của Kaspersky tại khu vực châu Á, tỷ lệ người dùng ví điện tử tại Philippines đạt mức cao nhất với 37%, tiếp theo là Việt Nam (14%), Indonesia (13%) và Thái Lan (13%). Số lượng người mua sắm trực tuyến từ 15 tuổi trở lên tại Việt Nam chiếm hơn 20% dân số, đứng thứ ba trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines), với dự báo tỷ trọng thanh toán điện tử sẽ đạt 23% vào năm 2023. Số liệu thống kê cũng ghi nhận 54% dân số Việt Nam sử dụng Internet, tập trung chi tiêu trực tuyến cho các nhu cầu mua sắm quần áo (53%), du lịch (48%) và hoạt động giải trí (46%). Thị trường trong nước ghi nhận 43 ví điện tử và tổ chức trung gian thanh toán phi ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước cấp phép hoạt động, bao gồm các thương hiệu như MoMo, ZaloPay, ShopeePay (tiền thân là AirPay), Moca (GrabPay), Payoo, VinID, VNPT Pay, MobiFone Pay, SmartPay, SenPay.
Mặc dù tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử tại Việt Nam duy trì khoảng 9%/năm và các biện pháp thúc đẩy thanh toán số được đẩy mạnh trong giai đoạn dịch Covid-19 (2019–2020) đối với các dịch vụ điện, nước, viễn thông, tỷ lệ sử dụng ví điện tử trong dân cư vẫn còn những rào cản nhất định. Thói quen sử dụng tiền mặt ăn sâu vào tiềm thức người dân do tâm lý an tâm, tránh rủi ro thất lạc, hư hỏng hàng hóa trong giao dịch trực tuyến. Người dùng còn e ngại về tính bảo mật thông tin cá nhân, chi phí sử dụng và độ phức tạp của quy trình xác thực mật mã ứng dụng so với giao dịch tiền mặt. Bên cạnh đó, hơn 60% dân số Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu chưa có tài khoản ngân hàng, đặc biệt tại khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa nơi hạ tầng kỹ thuật còn hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định sử dụng ví điện tử là cấp thiết nhằm giúp các tổ chức cung ứng hoàn thiện dịch vụ và mở rộng thị phần.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử, từ đó xác lập các yếu tố có mức độ ảnh hưởng lớn đến quyết định của người dân Việt Nam và đề xuất giải pháp cho các nhà cung ứng dịch vụ.
- Mục tiêu cụ thể:
- Xác định các nhân tố tác động đến ý định sử dụng ví điện tử của người dân Việt Nam.
- Đánh giá mức độ tác động của từng nhân tố đến ý định sử dụng ví điện tử.
- Đề xuất các biện pháp giúp nhà cung cấp cải thiện, phát triển dịch vụ ví điện tử nhằm duy trì khách hàng hiện tại và thu hút các phân khúc dân cư mới.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Những nhân tố nào tác động đến ý định sử dụng ví điện tử của người dân Việt Nam hiện nay?
- Mức độ tác động của từng nhân tố đến ý định sử dụng ví điện tử của người dân như thế nào?
- Cần có những giải pháp gì để cải thiện và phát triển các dịch vụ của ví điện tử nhằm duy trì và thu hút các tầng lớp dân cư sử dụng?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng ví điện tử của người dân Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu sơ cấp từ tháng 10/2021 đến tháng 01/2022; dữ liệu thứ cấp được cập nhật trong giai đoạn 2020–2021.
- Phạm vi không gian: Người dân sinh sống và làm việc tại Việt Nam, tập trung thu thập mẫu khảo sát tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và qua các kênh trực tuyến.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm về thương mại điện tử (theo Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO, Ủy ban châu Âu, và Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương - APEC), định nghĩa dịch vụ ví điện tử theo Khoản 8 Điều 1 Nghị định 80/2016/NĐ-CP (tài khoản điện tử định danh do tổ chức trung gian thanh toán cung cấp trên vật mang tin, đảm bảo bằng tiền gửi tại ngân hàng theo tỷ lệ 1:1), cùng các nghiên cứu của Upadhayaya (2012) và Aprianti (2020). Khái niệm ý định hành vi được tiếp cận từ Thuyết hành vi có hoạch định (TPB) của Ajzen (1991), Zhao & Othman (2010) và Pena-Garcia (2020).
Mô hình nghiên cứu kế thừa và tích hợp các cấu phần từ Mô hình Chấp nhận Công nghệ (TAM) của Davis (1989), Davis & Warshaw (1992) và Mô hình Hợp nhất Chấp nhận và Sử dụng Công nghệ (UTAUT) của Venkatesh và cộng sự (2003). Tác giả thiết lập 5 giả thuyết nghiên cứu tương ứng với 5 biến độc lập tác động đến 1 biến phụ thuộc:
- Giả thuyết H1: Nhận thức tính hữu ích (HI) có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng ví điện tử.
- Giả thuyết H2: Nhận thức tính dễ sử dụng (DSD) có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng ví điện tử.
- Giả thuyết H3: Ảnh hưởng xã hội (AHXH) có ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử.
- Giả thuyết H4: Nhận thức ít rủi ro (IRR) có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng ví điện tử.
- Giả thuyết H5: Điều kiện thuận lợi (DKTL) có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng ví điện tử.
Phương trình hồi quy đa biến có dạng:
$$Y = \beta_0 + \beta_1 HI + \beta_2 DSD + \beta_3 AHXH + \beta_4 IRR + \beta_5 DKTL + e$$
(Trong đó: $Y$ là biến phụ thuộc Ý định sử dụng; $HI, DSD, AHXH, IRR, DKTL$ là các biến độc lập; $\beta_i$ là các hệ số hồi quy; $e$ là phần dư).
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng thông qua các nguồn dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại, tài liệu thư viện Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, các tạp chí khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước giai đoạn 2020–2021.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập bằng bảng câu hỏi cấu trúc trực tuyến qua Google Form và phát phiếu trực tiếp bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Thang đo sử dụng dạng Likert 5 mức độ (từ 1: Rất không đồng ý đến 5: Rất đồng ý), gồm 21 biến quan sát cho biến độc lập và 3 biến quan sát cho biến phụ thuộc. Tổng số phiếu phát ra là 280 (trong đó gửi trực tuyến 270 phiếu kèm phát trực tiếp), thu về 266 phiếu; sau khi sàng lọc thu được 250 phiếu hợp lệ (175 người đã sử dụng ví điện tử và 75 người chưa sử dụng).
Quy trình xử lý dữ liệu thực hiện trên phần mềm SPSS 20.0 / SPSS 25 qua các bước kỹ thuật:
- Thống kê mô tả đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu.
- Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (tiêu chuẩn: Alpha $\ge 0{,}6$; hệ số tương quan biến - tổng $> 0{,}3$).
- Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho biến độc lập và biến phụ thuộc (tiêu chuẩn: $0{,}5 < \text{KMO} < 1$, kiểm định Bartlett có Sig. $< 0{,}05$, Eigenvalue $> 1$, tổng phương sai trích $> 50%$, loại bỏ biến có chênh lệch trọng số tải giữa các nhân tố $< 0{,}3$).
- Phân tích ma trận tương quan tuyến tính Pearson.
- Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến để kiểm định các giả thuyết và xác định mức độ tác động của từng nhân tố.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Giới thiệu đề tài
Chương 1 thiết lập tổng quan nghiên cứu, phân tích tính cấp thiết của việc phát triển thanh toán không tiền mặt và ví điện tử tại Việt Nam trong bối cảnh công nghệ số và hậu Covid-19. Tác giả trình bày các số liệu thống kê thực trạng thị trường (tỷ lệ thâm nhập ví điện tử tại các nước Đông Nam Á, thị phần các nhà mạng và trung gian thanh toán, rào cản tỷ lệ dân cư chưa có tài khoản ngân hàng). Chương này công bố mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi không gian - thời gian, phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp/thứ cấp, đóng góp của đề tài và bố cục 5 chương của khóa luận.
Chương 2. Cơ sở lý thuyết và lược khảo các công trình nghiên cứu có liên quan
Chương 2 hệ thống hóa các định nghĩa học thuật và khung pháp lý về thương mại điện tử, dịch vụ ví điện tử và ý định hành vi tiêu dùng. Tác giả phân tích các mô hình lý thuyết nền tảng gồm TAM, TPB và UTAUT. Chương này tiến hành lược khảo các nghiên cứu quốc tế (Trivedi, 2016; Amin, 2009; Swilley, 2010; Mahran & Enaba, 2013; Aji, Berakon & Husin, 2020) và nghiên cứu trong nước (Nguyễn Cường, Nguyễn Trang & Trần Thảo, 2020; Bùi Nhất Vương, 2021; Phan Trọng Nhân, Hồ Trúc Vi & Lê Hoàng Việt Phương, 2020; Tô Anh Thơ & Trịnh Thị Hồng Minh, 2021). Từ cơ sở đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu gồm 5 giả thuyết ($H_1$ đến $H_5$) đo lường ảnh hưởng của nhận thức tính hữu ích, tính dễ sử dụng, ảnh hưởng xã hội, nhận thức ít rủi ro và điều kiện thuận lợi đến ý định sử dụng ví điện tử.
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu 7 bước, từ xác lập cơ sở lý thuyết, thiết kế thang đo nháp, tham vấn chuyên gia và giảng viên hướng dẫn để ban hành thang đo chính thức, phát phiếu khảo sát qua Google Form, nhập liệu, kiểm định thang đo đến phân tích hồi quy trên SPSS. Tác giả chi tiết hóa bảng mã hóa 24 biến quan sát (21 biến độc lập thuộc 5 nhóm: HI1–HI4, DSD1–DSD4, AHXH1–AHXH4, IRR1–IRR4, DKTL1–DKTL5 và 3 biến phụ thuộc: Y1–Y3). Chương này xác định quy mô mẫu nghiên cứu tối thiểu theo lý thuyết là 105 mẫu, quy mô phát thực tế 280 mẫu, thu về 266 mẫu và đạt 250 mẫu hợp lệ, đồng thời mô tả phương pháp lấy mẫu thuận tiện và quy trình xử lý dữ liệu thứ cấp từ các tổ chức ngân hàng.
Chương 4. Kết quả nghiên cứu
Chương 4 công bố toàn bộ dữ liệu phân tích định lượng từ 250 mẫu khảo sát hợp lệ. Nội dung bao gồm: thống kê mô tả mẫu nhân khẩu học (giới tính, độ tuổi, học vấn, nghề nghiệp, thu nhập); kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha (tất cả các thang đo đều đạt hệ số từ 0,721 đến 0,835); kết quả phân tích EFA biến độc lập lần 1 (KMO = 0,787, loại 2 biến quan sát DKTL2 và DSD2 do không đạt độ phân biệt tải nhân tố) và lần 2 (19 biến hội tụ thành 5 nhân tố với tổng phương sai trích 62,851%); kết quả EFA biến phụ thuộc (trích 1 nhân tố Y, phương sai trích 71,35%); ma trận tương quan Pearson khẳng định cả 5 biến độc lập đều có tương quan tuyến tính có ý nghĩa thống kê với biến Y (Sig. < 0,01); và kết quả hồi quy tuyến tính đa biến chứng minh cả 5 nhân tố đều tác động tích cực đến ý định sử dụng ví điện tử (Sig. < 0,05).
Chương 5. Kết luận và khuyến nghị
Chương 5 tổng kết các kết quả định lượng đạt được từ mô hình hồi quy, khẳng định mức độ tác động của từng nhân tố theo thứ tự giảm dần: Nhận thức tính hữu ích, Nhận thức tính dễ sử dụng, Điều kiện thuận lợi, Nhận thức ít rủi ro và Ảnh hưởng xã hội. Dựa trên kết quả thực nghiệm, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp chi tiết cho các tổ chức cung ứng ví điện tử và cơ quan quản lý, phân theo 5 nhóm nhân tố tương ứng nhằm nâng cao tính năng ứng dụng, tối ưu hóa trải nghiệm giao diện, tăng cường an toàn bảo mật và phát triển các chương trình khuyến mãi, mở rộng thị phần tại Việt Nam.
Kết quả và đóng góp
Kết quả phân tích thống kê mô tả mẫu (N = 250)
| Tiêu chí phân loại |
Nhóm phân loại |
Tần số (người) |
Tỷ lệ (%) |
| Giới tính |
Nữ |
141 |
56,4% |
|
Nam |
109 |
43,6% |
| Độ tuổi |
Từ 15 đến 24 tuổi |
86 |
34,4% |
|
Từ 25 đến 30 tuổi |
91 |
36,4% |
|
Trên 30 tuổi |
73 |
29,2% |
| Trình độ học vấn |
Trung học phổ thông |
37 |
14,8% |
|
Cao đẳng / Trung cấp |
52 |
20,8% |
|
Đại học |
144 |
57,6% |
|
Sau đại học |
17 |
6,8% |
| Nghề nghiệp |
Học sinh – Sinh viên |
64 |
25,6% |
|
Công nhân viên chức |
52 |
20,8% |
|
Kinh doanh |
26 |
10,4% |
|
Nội trợ |
20 |
8,0% |
|
Khác |
88 |
35,2% |
| Thu nhập hàng tháng |
Dưới 5 triệu VND |
80 |
32,0% |
|
Từ 5 đến 10 triệu VND |
93 |
37,2% |
|
Trên 10 triệu VND |
77 |
30,8% |
Kết quả kiểm định thang đo và phân tích nhân tố EFA
- Kiểm định Cronbach's Alpha: Thang đo ban đầu gồm 24 biến quan sát đạt độ tin cậy nội tại cao:
- Nhận thức tính hữu ích (HI: 4 biến): $\alpha = 0{,}788$ (hoặc $0{,}746$ theo bảng tổng hợp).
- Nhận thức tính dễ sử dụng (DSD: 4 biến): $\alpha = 0{,}826$ (hoặc $0{,}817$).
- Nhận thức ảnh hưởng xã hội (AHXH: 4 biến): $\alpha = 0{,}789$ (hoặc $0{,}721$).
- Nhận thức ít rủi ro (IRR: 4 biến): $\alpha = 0{,}799$ (hoặc $0{,}727$).
- Nhận thức điều kiện thuận lợi (DKTL: 5 biến): $\alpha = 0{,}835$ (hoặc $0{,}818$).
- Thang đo ý định sử dụng (Y: 3 biến): $\alpha = 0{,}799$ (hoặc $0{,}734$).
- Toàn bộ các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến - tổng lớn hơn 0,3.
- Phân tích EFA biến độc lập:
- Lần 1: Trích 5 nhân tố từ 21 biến, KMO = 0,787, Bartlett Sig. = 0,000, tổng phương sai trích = 64,22%. Biến DKTL2 ("Thuận lợi và an toàn tránh rủi ro đánh rơi tiền mặt") và biến DSD2 ("Ví điện tử dễ dàng đáp ứng theo yêu cầu") bị loại do chênh lệch trọng số tải giữa các nhân tố nhỏ hơn 0,3.
- Lần 2: 19 biến quan sát còn lại hội tụ chuẩn xác vào 5 nhân tố với KMO = 0,787, Sig. = 0,000, tổng phương sai trích đạt 62,851% tại điểm dừng Eigenvalue = 1.
- Phân tích EFA biến phụ thuộc: 3 biến quan sát (Y1, Y2, Y3) hội tụ vào 1 nhân tố duy nhất, KMO = 0,711, Sig. = 0,000, Eigenvalue = 2,140, tổng phương sai trích đạt 71,35%.
Kết quả phân tích hồi quy và kiểm định giả thuyết
Mô hình hồi quy tuyến tính chuẩn hóa có dạng:
$$Y = 0{,}288 \times HI + 0{,}222 \times DSD + 0{,}217 \times DKTL + 0{,}212 \times IRR + \beta \times AHXH$$
(Cả 5 biến độc lập đều có ý nghĩa thống kê với Sig. $< 0{,}05$, chứng minh các giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5 đều được chấp nhận).
| Thứ tự tác động |
Biến độc lập |
Tên nhân tố |
Hệ số Beta chuẩn hóa |
Mức độ đóng góp (%) |
| 1 |
HI |
Nhận thức tính hữu ích |
0,288 |
28,8% |
| 2 |
DSD |
Nhận thức tính dễ sử dụng |
0,222 |
22,2% |
| 3 |
DKTL |
Điều kiện thuận lợi |
0,217 |
21,7% |
| 4 |
IRR |
Nhận thức ít rủi ro |
0,212 |
21,2% (hoặc 16,2%) |
| 5 |
AHXH |
Nhận thức ảnh hưởng xã hội |
Có ý nghĩa |
Tác động dương |
Các nhóm giải pháp và khuyến nghị của tác giả
- Nâng cao nhận thức tính hữu ích: Các nhà cung cấp ví điện tử cần mở rộng hệ sinh thái liên kết thanh toán (điện, nước, viễn thông, học phí, y tế, mua sắm sàn thương mại điện tử), tối ưu hóa tốc độ chuyển tiền và thanh toán nhanh chóng hơn so với giao dịch tiền mặt.
- Cải thiện tính dễ sử dụng: Thiết kế giao diện ứng dụng tối giản, thân thiện, đồng bộ hóa quy trình thao tác; xây dựng các câu lệnh, hướng dẫn rõ ràng giúp người dùng ở mọi lứa tuổi và trình độ học vấn đều có thể thao tác dễ dàng mà không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao.
- Tối ưu hóa điều kiện thuận lợi: Tăng cường tích hợp liên kết đa dạng thẻ ghi nợ/thẻ tín dụng của các ngân hàng thương mại, mở rộng mạng lưới điểm chấp nhận thanh toán quét mã QR tại các cửa hàng bán lẻ, đồng thời duy trì các chương trình khuyến mãi, hoàn tiền hấp dẫn.
- Tăng cường bảo mật và giảm thiểu rủi ro: Đầu tư hệ thống an ninh mạng, áp dụng các chuẩn bảo mật tiên tiến, xác thực sinh trắc học và mã OTP để bảo vệ dữ liệu cá nhân, hạn chế lỗi hệ thống khi giao dịch nhằm tạo dựng niềm tin cho người dùng.
- Phát huy ảnh hưởng xã hội: Tận dụng các kênh truyền thông trực tuyến, mạng xã hội, các chương trình giới thiệu nhận thưởng từ người thân, bạn bè, đồng nghiệp để lan tỏa hành vi sử dụng ví điện tử trong cộng đồng.
Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về việc chấp nhận công nghệ tài chính tại Việt Nam, kiểm chứng thực nghiệm mô hình kết hợp TAM và UTAUT trong bối cảnh thanh toán điện tử giai đoạn dịch Covid-19.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng cho các ngân hàng thương mại, tổ chức trung gian thanh toán và các nhà hoạch định chính sách nắm bắt mức độ ưu tiên của người dùng đối với từng đặc tính dịch vụ, làm cơ sở xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm ví điện tử phù hợp tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về quy mô và cách thức chọn mẫu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện với kích thước mẫu dừng lại ở 250 quan sát hợp lệ, đối tượng khảo sát tập trung chủ yếu tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và qua mạng lưới quen biết của tác giả, chưa bao phủ đầy đủ đại diện dân cư tại các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa (nơi có tỷ lệ chưa có tài khoản ngân hàng cao).
- Hạn chế về phạm vi thời gian: Quá trình thu thập số liệu sơ cấp diễn ra trong khoảng thời gian ngắn (từ tháng 10/2021 đến tháng 01/2022) trong giai đoạn thị trường chịu tác động bởi dịch bệnh Covid-19, có thể dẫn đến sự biến thiên nhất định trong hành vi tiêu dùng ngắn hạn.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Các nghiên cứu sau có thể mở rộng kích cỡ mẫu khảo sát trên phạm vi toàn quốc với cơ cấu phân tầng địa lý đa dạng hơn; bổ sung thêm các biến nghiên cứu mới như sự tin tưởng, chi phí giao dịch, nhận thức thương hiệu hoặc vai trò điều tiết/trung gian của các biến nhân khẩu học và chính sách hỗ trợ của Chính phủ.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Thương mại điện tử, Hệ thống thông tin quản lý và Quản trị kinh doanh đang thực hiện đề tài tốt nghiệp hoặc nghiên cứu khoa học về hành vi chấp nhận công nghệ tài chính (Fintech), ngân hàng số và thanh toán không dùng tiền mặt.
- Nội dung có giá trị kế thừa: Khung thang đo 24 biến quan sát được mã hóa chi tiết từ các nghiên cứu quốc tế và trong nước; quy trình xử lý dữ liệu định lượng 7 bước hoàn chỉnh trên SPSS (kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA hai lần để loại biến không đạt, ma trận tương quan Pearson và mô hình hồi quy tuyến tính); cùng bảng tổng hợp các công trình nghiên cứu đi trước về ví điện tử.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng cỡ mẫu khảo sát thực tế là bao nhiêu và tỷ lệ mẫu hợp lệ đạt bao nhiêu?
Tác giả phát ra 280 phiếu khảo sát (trong đó gửi 270 bảng câu hỏi trực tuyến qua Google Form kết hợp phát trực tiếp), thu về 266 phiếu (tỷ lệ thu hồi 98,52%). Sau quá trình sàng lọc, có 250 phiếu khảo sát hợp lệ (đạt 93,98% số phiếu thu về), gồm 175 người đã sử dụng ví điện tử và 75 người chưa từng sử dụng.
2. Những biến quan sát nào bị loại bỏ trong quá trình phân tích nhân tố khám phá (EFA)?
Trong phân tích EFA biến độc lập lần thứ nhất, 2 biến quan sát bị loại bỏ là DKTL2 ("Thuận lợi và an toàn (tránh những rủi ro đánh rớt, hao hụt tiền mặt...)") và DSD2 ("Ví điện tử dễ dàng đáp ứng theo yêu cầu của mình") do có sự chênh lệch trọng số tải nhân tố nhỏ hơn 0,3 khi trích thành hai nhân tố, không đảm bảo giá trị hội tụ và phân biệt của thang đo.
3. Nhân tố nào có mức độ tác động mạnh nhất đến ý định sử dụng ví điện tử trong mô hình hồi quy?
Nhận thức tính hữu ích (HI) là nhân tố tác động mạnh nhất đến ý định sử dụng ví điện tử của người dân với hệ số hồi quy chuẩn hóa $\beta = 0{,}288$ (đóng góp 28,8%), xếp thứ hai là Nhận thức tính dễ sử dụng ($DSD, \beta = 0{,}222$), thứ ba là Điều kiện thuận lợi ($DKTL, \beta = 0{,}217$), tiếp theo là Nhận thức ít rủi ro ($IRR, \beta = 0{,}212$) và Ảnh hưởng xã hội ($AHXH$).
4. Khóa luận căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật nào của Việt Nam để xác định khái niệm ví điện tử?
Tác giả căn cứ vào Khoản 8 Điều 1 Nghị định số 80/2016/NĐ-CP của Chính phủ, quy định dịch vụ ví điện tử là dịch vụ cung cấp tài khoản điện tử định danh do tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tạo lập trên vật mang tin, đảm bảo bằng giá trị tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng thương mại theo tỷ lệ 1:1.
5. Cơ cấu mẫu khảo sát theo trình độ học vấn và độ tuổi phân bổ như thế nào?
Trong 250 mẫu hợp lệ: về học vấn, trình độ Đại học chiếm đa số với 144 người (57,6%), Cao đẳng/Trung cấp có 52 người (20,8%), THPT có 37 người (14,8%) và Sau đại học có 17 người (6,8%). Về độ tuổi, nhóm từ 25 đến 30 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 91 người (36,4%), nhóm từ 15 đến 24 tuổi có 86 người (34,4%) và nhóm trên 30 tuổi có 73 người (29,2%).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trương Nguyễn Thanh Trang đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết TAM và UTAUT, đồng thời thực hiện kiểm định định lượng chặt chẽ trên mẫu 250 người dân Việt Nam để xác định các yếu tố chi phối ý định sử dụng ví điện tử. Kết quả nghiên cứu khẳng định cả 5 nhân tố gồm Nhận thức tính hữu ích, Nhận thức tính dễ sử dụng, Điều kiện thuận lợi, Nhận thức ít rủi ro và Ảnh hưởng xã hội đều có tác động tích cực có ý nghĩa thống kê đến quyết định thanh toán qua ví điện tử, trong đó tính hữu ích giữ vai trò chi phối lớn nhất. Công trình mang lại giá trị thực tiễn cho các trung gian thanh toán và ngân hàng thương mại trong việc tối ưu hóa giao diện ứng dụng, củng cố hệ thống an toàn bảo mật và mở rộng hệ sinh thái dịch vụ nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi số và thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam.