Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng (Mã số: 9340201) của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Diễm Kiều, được thực hiện tại Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo và TS. Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh (năm 2023), mang tiêu đề "Thể chế phi chính thức và sự phát triển của tín dụng công nghệ tài chính" (tên tiếng Anh: Informal Institutions and The Development of Fintech Credit).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các đổi mới công nghệ trở thành động lực thúc đẩy các thay đổi trong lĩnh vực tài chính. Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, sự tham gia của các công ty khởi nghiệp công nghệ tài chính (Fintech) và các tập đoàn công nghệ lớn (BigTech) đã mở rộng từ dịch vụ thanh toán, chuyển tiền sang các hoạt động tài chính cốt lõi, trong đó tín dụng công nghệ tài chính (TD CNTC) đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất. Tuy nhiên, việc giải thích sự không đồng nhất về quy mô và tốc độ phát triển của TD CNTC giữa các quốc gia vẫn còn hạn chế.
Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây chủ yếu tập trung vào các nhân tố thuộc hệ thống ngân hàng truyền thống, trình độ phát triển công nghệ, mức độ phát triển kinh tế và các đặc điểm thể chế chính thức (TCCT). Vai trò của thể chế phi chính thức (TCPCT) – bao gồm các chuẩn mực, quy ước, giá trị văn hóa xã hội cắm rễ sâu và định hình hành vi kinh tế – chưa được xem xét thỏa đáng. Đồng thời, trong bối cảnh các quốc gia đang dần thiết lập các khung pháp lý điều tiết chuyên biệt đối với hoạt động tín dụng mới này, sự tương tác giữa TCCT mới ban hành và TCPCT hiện hữu đối với sự phát triển của TD CNTC vẫn là một khoảng trống nghiên cứu cần được kiểm chứng thực nghiệm thận trọng.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mục tiêu (a): Phân tích tác động của các đặc điểm TCPCT, đại diện bởi sáu khía cạnh văn hóa quốc gia (VHQG) theo mô hình Hofstede, đến sự phát triển TD CNTC.
- Mục tiêu (b): Đánh giá tác động của việc ban hành các quy định pháp lý cụ thể điều tiết hoạt động TD CNTC đến mối quan hệ giữa các đặc điểm TCPCT và sự phát triển của loại hình tín dụng này.
Câu hỏi nghiên cứu
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được đánh số và cấu trúc tương ứng với hai mục tiêu:
Nhóm câu hỏi thuộc Mục tiêu (a):
- [a.1] Mức độ e ngại sự không chắc chắn trong VHQG tác động như thế nào đến sự phát triển TD CNTC?
- [a.2] Khoảng cách quyền lực trong VHQG tác động như thế nào đến sự phát triển TD CNTC?
- [a.3] Chủ nghĩa cá nhân trong VHQG tác động như thế nào đến sự phát triển TD CNTC?
- [a.4] Định hướng nam tính trong VHQG tác động như thế nào đến sự phát triển TD CNTC?
- [a.5] Định hướng dài hạn trong VHQG tác động như thế nào đến sự phát triển TD CNTC?
- [a.6] Định hướng tận hưởng trong VHQG tác động như thế nào đến sự phát triển TD CNTC?
Nhóm câu hỏi thuộc Mục tiêu (b):
- [b.1] Việc ban hành các quy định điều tiết cụ thể tác động như thế nào đến mối quan hệ giữa mức độ e ngại sự không chắc chắn và sự phát triển TD CNTC?
- [b.2] Việc ban hành các quy định điều tiết cụ thể tác động như thế nào đến mối quan hệ giữa khoảng cách quyền lực và sự phát triển TD CNTC?
- [b.3] Việc ban hành các quy định điều tiết cụ thể tác động như thế nào đến mối quan hệ giữa chủ nghĩa cá nhân và sự phát triển TD CNTC?
- [b.4] Việc ban hành các quy định điều tiết cụ thể tác động như thế nào đến mối quan hệ giữa định hướng nam tính và sự phát triển TD CNTC?
- [b.5] Việc ban hành các quy định điều tiết cụ thể tác động như thế nào đến mối quan hệ giữa định hướng dài hạn và sự phát triển TD CNTC?
- [b.6] Việc ban hành các quy định điều tiết cụ thể tác động như thế nào đến mối quan hệ giữa định hướng tận hưởng và sự phát triển TD CNTC?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: (1) Mối quan hệ giữa các đặc điểm TCPCT (đại diện bởi các khía cạnh VHQG) và sự phát triển TD CNTC; (2) Ảnh hưởng điều tiết của việc ban hành các quy định pháp lý cụ thể đối với mối quan hệ trên.
- Phạm vi không gian: Mẫu nghiên cứu gồm 68 nền kinh tế, đại diện cho 98,9% tổng quy mô TD CNTC toàn cầu từ cơ sở dữ liệu ban đầu.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2013 – 2019. Năm 2013 đánh dấu mốc khởi đầu cho chuỗi tăng trưởng mạnh của TD CNTC và là thời điểm dữ liệu bắt đầu được ghi nhận đầy đủ; năm 2019 là mốc kết thúc căn cứ theo tính sẵn có của dữ liệu tại thời điểm nghiên cứu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Luận án tổng quan các công trình nghiên cứu thực nghiệm giải thích sự phát triển của TD CNTC theo các nhóm nhân tố vĩ mô và thể chế:
| Nhóm nhân tố |
Hướng tác động |
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu |
| Đặc điểm hệ thống ngân hàng |
|
|
| - Mật độ mạng lưới chi nhánh |
(-) |
Jagtiani & Lemieux (2018), Hau và cộng sự (2019), Frost và cộng sự (2019), Cornelli và cộng sự (2021) |
| - Mức độ cạnh tranh thấp |
(+) |
Claessens và cộng sự (2018), Cornelli và cộng sự (2021), Frost và cộng sự (2019), Bazarbash và cộng sự (2020), Jagtiani & Lemieux (2018) |
| - Độ phủ tín dụng ngân hàng |
(-)/(+) |
Hau và cộng sự (2021), Sahay và cộng sự (2020), Claessens và cộng sự (2018), Cornelli và cộng sự (2021), Frost và cộng sự (2019) |
| Phát triển công nghệ (Độ phủ internet, bảo mật mạng, thuật toán chấm điểm) |
(+) |
Fuster và cộng sự (2019), Hau và cộng sự (2021), Buchak và cộng sự (2018), Sahay và cộng sự (2020), Oh & Rosenkranz (2020), Kowalewski và cộng sự (2021) |
| Phát triển kinh tế (GDP bình quân đầu người) |
(+) |
Jagtiani & Lemieux (2018), Tang (2019), Buchak và cộng sự (2018), Haddad & Hornuf (2019), Claessens và cộng sự (2018), Frost và cộng sự (2019), Cornelli và cộng sự (2021) |
| Thể chế chính thức |
|
|
| - Chất lượng TCCT hiện có (Pháp quyền, bảo vệ quyền chủ nợ/nhà đầu tư) |
(+) |
Cornelli và cộng sự (2021), Kowalewski và cộng sự (2021), Rau (2020) |
| - Ban hành quy định điều tiết TD CNTC và mức độ rõ ràng của quy định |
(+) |
Rau (2020), Rau (2021), Cornelli và cộng sự (2021) |
Về đo lường TCPCT, các nghiên cứu thực nghiệm trong kinh tế học thể chế thường sử dụng hai đại diện:
- Niềm tin xã hội (Social trust): Được dùng trong các nghiên cứu của Cruz-García & Peiró-Palomino (2019), Kafouros và cộng sự (2022), Li & Filer (2007), Méon & Sekkat (2015), Pathak & Muralidharan (2016). Tuy nhiên, Voigt (2018) chỉ ra rằng niềm tin xã hội chịu sự chi phối mạnh mẽ từ hiệu quả của TCCT, do đó khó phản ánh độc lập bản chất của TCPCT.
- Văn hóa quốc gia (National culture): Được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu tài chính và đổi mới công nghệ (Holmes và cộng sự, 2013; Block và cộng sự, 2018; Brinkerink & Rondi, 2020; Fuentelsaz và cộng sự, 2020; Papageorgiadis và cộng sự, 2020; Úbeda và cộng sự, 2022).
Khoảng trống nghiên cứu và vị trí của luận án
- Các nghiên cứu liên quan gần nhất (như Kowalewski và cộng sự, 2021) kiểm định tác động của từng khía cạnh TCPCT một cách riêng rẽ qua các phương trình hồi quy độc lập, bỏ qua tính cấu trúc đan xen giữa TCCT và TCPCT hoặc giữa các khía cạnh văn hóa với nhau. Điều này có thể dẫn đến hiện tượng thiên lệch do thiếu biến và vi phạm các nguyên lý của lý thuyết kinh tế học thể chế mới (North, 1990; Williamson, 2000).
- Chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào kiểm định tác động điều tiết của việc ban hành khung pháp lý chuyên biệt ($RegTech$) cũng như mức độ rõ ràng của các quy định đối với mối quan hệ giữa TCPCT và sự phát triển TD CNTC.
- Thiếu các phân tích bóc tách tác động của TCPCT đối với từng cấu phần cụ thể của TD CNTC, bao gồm tín dụng cho vay ngang hàng (P2P lending), tín dụng do chính nền tảng cho vay (Balance sheet lending), và tín dụng từ các công ty công nghệ lớn (BigTech credit).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án kết hợp bốn lý thuyết nền tảng để xây dựng khung phân tích:
- Lý thuyết Kinh tế học thể chế mới (New Institutional Economics - North, 1990; Williamson, 2000): Thể chế bao gồm các ràng buộc chính thức (luật pháp, hiến pháp, quyền tài sản) và ràng buộc phi chính thức (chuẩn mực hành vi, truyền thống, phong tục, giá trị văn hóa). TCPCT có đặc tính xã hội, chậm thay đổi (theo chu kỳ thế kỷ), và được thực thi thông qua sự công nhận chung của cộng đồng (Helmke & Levitsky, 2004; Pejovich, 1999). Hai hình thức thể chế này tương tác đan xen để định hình chi phí giao dịch và xác định tập hợp lựa chọn kinh tế.
- Lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT - Venkatesh và cộng sự, 2003): Giải thích hành vi chấp nhận công nghệ tài chính mới dựa trên kỳ vọng hiệu quả, kỳ vọng nỗ lực, ảnh hưởng xã hội và điều kiện thuận lợi.
- Lý thuyết Chi phí giao dịch (Transaction Cost Theory - Williamson, 1975; Chiles & McMackin, 1996): Môi trường thể chế đóng vai trò giảm thiểu sự không chắc chắn, bất cân xứng thông tin và rủi ro cơ hội trong các giao dịch tín dụng trực tuyến.
- Lý thuyết Hữu dụng kỳ vọng (Expected Utility Theory - von Neumann & Morgenstern, 1947): Quyết định tham gia thị trường tín dụng công nghệ được định hình bởi thái độ đối với rủi ro và các đánh giá xác suất chủ quan trong môi trường văn hóa cụ thể.
Khung đo lường TCPCT sử dụng sáu khía cạnh VHQG của Geert Hofstede (Hofstede, 1980; Hofstede và cộng sự, 2010):
- Mức độ e ngại sự không chắc chắn (Uncertainty Avoidance Index - UAI)
- Khoảng cách quyền lực (Power Distance Index - PDI)
- Chủ nghĩa cá nhân so với chủ nghĩa tập thể (Individualism - IDV)
- Định hướng nam tính so với nữ tính (Masculinity - MAS)
- Định hướng dài hạn so với ngắn hạn (Long-term Orientation - LTO)
- Định hướng tận hưởng so với kiềm chế (Indulgence Versus Restraint - IVR)
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Mô hình thực nghiệm được xây dựng dưới dạng hồi quy dữ liệu bảng (panel data) cho 68 nền kinh tế trong giai đoạn 2013 – 2019:
Mô hình cơ sở (đánh giá tác động độc lập của TCPCT):
$$FTC_{i,t} = \beta_0 + \beta_{1..6} iinst_i + \beta_{reg} RegTech_{i,t-1} + \beta_{for} ForInst_{i,t} + \beta_c contr_{i,t} + \mu_i + \varepsilon_{i,t} \quad (*)$$
Mô hình tương tác (đánh giá vai trò điều tiết của quy định pháp lý):
$$FTC_{i,t} = \beta_0 + \beta_{1..6} iinst_i + \beta_{reg} RegTech_{i,t-1} + \beta_{1..6_reg} (iinst_i \times RegTech_{i,t-1}) + \beta_{for} ForInst_{i,t} + \beta_c contr_{i,t} + \mu_i + \varepsilon_{i,t} \quad (**)$$
Định nghĩa các biến trong mô hình:
- $FTC_{i,t}$: Mức độ phát triển TD CNTC tại nền kinh tế $i$ năm $t$, đo lường bằng logarit của tổng quy mô TD CNTC trên GDP (biến đo lường thay thế: logarit tổng TD CNTC bình quân đầu người).
- $iinst_i$: Tập hợp sáu biến VHQG theo Hofstede đại diện cho TCPCT của nền kinh tế $i$ (không đổi theo thời gian).
- $RegTech_{i,t-1}$: Biến giả có giá trị bằng 1 nếu nền kinh tế $i$ đã ban hành quy định pháp lý cụ thể điều tiết TD CNTC tại năm $t-1$, và 0 nếu ngược lại (sử dụng độ trễ một năm theo Kshetri (2018, 2023) để nắm bắt độ trễ hiệu lực chính sách).
- $ForInst_{i,t}$: Biến đo lường chất lượng TCCT tổng thể từ bộ chỉ số Worldwide Governance Indicators (WGI) của Ngân hàng Thế giới.
- $contr_{i,t}$: Tập hợp các biến kiểm soát cấp quốc gia: phát triển kinh tế (logarit GDP bình quân đầu người), phát triển công nghệ (tỷ lệ sử dụng internet), đặc điểm hệ thống ngân hàng (mật độ chi nhánh ngân hàng, mức độ tập trung/cạnh tranh ngân hàng, độ phủ tín dụng tư nhân).
- $\mu_i$: Tác động riêng biệt không quan sát được của từng quốc gia; $\varepsilon_{i,t}$ là sai số ngẫu nhiên; các biến giả năm được đưa vào để kiểm soát tác động cố định theo thời gian.
Kỹ thuật ước lượng và kiểm định:
- Kiểm định Breusch-Pagan phát hiện hiện tượng phương sai thay đổi (heteroskedasticity); kiểm định Wooldridge phát hiện hiện tượng tự tương quan (autocorrelation).
- Do các biến VHQG không thay đổi theo thời gian, mô hình Tác động cố định (Fixed Effects) không thể sử dụng. Luận án áp dụng hai phương pháp ước lượng chính:
- Ước lượng bình phương nhỏ nhất có trọng số tác động giữa các quốc gia (Weighted Least Squares Between Effects - WLS BE).
- Ước lượng bình phương nhỏ nhất tổng quát tác động ngẫu nhiên (Generalized Least Squares Random Effects - GLS RE).
- Kiểm soát vấn đề nội sinh thông qua phương pháp ước lượng Moment tổng quát hệ thống hai giai đoạn (Two-step System GMM - SGMM) có hiệu chỉnh sai số chuẩn.
- Các biến số được xử lý cắt đuôi (winsorize) ở mức 1% và 99% để loại bỏ ảnh hưởng của các giá trị ngoại lai.
- Kiểm định tính vững: Thay đổi biến phụ thuộc sang logarit TD CNTC bình quân đầu người; thay đổi biến đại diện TCPCT bằng bộ chỉ số văn hóa Hofstede được tái ước tính bởi Tang & Koveos (2008).
Nguồn dữ liệu nghiên cứu
- Dữ liệu TD từ các nền tảng CNTC (Fintech platforms' credit): Thu thập từ Trung tâm Cambridge về Tài chính thay thế (Cambridge Centre for Alternative Finance - CCAF), Đại học Cambridge.
- Dữ liệu TD từ các công ty công nghệ lớn (BigTech credit): Thu thập từ công trình của Cornelli và cộng sự (2020) công bố qua Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS).
- Dữ liệu thể chế phi chính thức: Truy xuất từ cơ sở dữ liệu Hofstede Insights; kiểm định tính vững dùng dữ liệu từ Tang & Koveos (2008).
- Dữ liệu quy định pháp lý và mức độ rõ ràng: Thu thập từ cơ sở dữ liệu của Rau (2021).
- Dữ liệu kinh tế vĩ mô, công nghệ và ngân hàng: Thu thập từ cơ sở dữ liệu World Development Indicators (WDI) và Worldwide Governance Indicators (WGI) của Ngân hàng Thế giới (World Bank).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Mở đầu
Chương này giới thiệu bối cảnh thực tiễn và học thuật dẫn đến động cơ nghiên cứu; xác định mục tiêu nghiên cứu tổng quát và hai mục tiêu cụ thể; thiết lập 12 câu hỏi nghiên cứu chi tiết; xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu (68 nền kinh tế, giai đoạn 2013 – 2019); tóm lược khung phương pháp luận, các nguồn dữ liệu chính, các phát hiện cốt lõi, những đóng góp mới của luận án và bố cục kết cấu năm chương của công trình.
Chương 2. Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu liên quan
Chương 2 trình bày có hệ thống cơ sở lý thuyết và tổng quan tài liệu học thuật:
- Khung khái niệm và ba đặc trưng cốt lõi của TD CNTC: chủ thể thực hiện ngoài hệ thống ngân hàng; quy trình tương tác hoàn toàn trực tuyến trên nền tảng số; phương thức sàng lọc và giám sát dựa trên dữ liệu phi truyền thống và thuật toán tự động (Berg và cộng sự, 2022; Claessens và cộng sự, 2018).
- Phân loại TD CNTC thành hai nhánh chính: Tín dụng nền tảng (bao gồm P2P lending, balance sheet lending, invoice trading, debt-based securities) và Tín dụng công ty công nghệ lớn (BigTech credit dựa trên cơ sở dữ liệu khách hàng từ hệ sinh thái phi tài chính sẵn có).
- Phân tích các lợi thế kỳ vọng (mở rộng tài chính toàn diện, rút ngắn thời gian xử lý, giảm thiểu định kiến con người) và các rủi ro (bảo mật dữ liệu, an ninh mạng, bất cân xứng thông tin, tập trung vào phân khúc khách hàng cận biên dưới chuẩn).
- Cơ sở lý thuyết về TCPCT: bản chất, đặc trưng chậm biến đổi, cơ chế tương tác đan xen với TCCT theo trường phái Kinh tế học thể chế mới; thảo luận việc sử dụng VHQG theo mô hình Hofstede làm đại diện cho TCPCT.
- Phát triển hệ thống giả thuyết nghiên cứu về tác động của sáu khía cạnh VHQG đến TD CNTC và vai trò điều chỉnh của việc ban hành quy định pháp lý chuyên biệt.
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 chi tiết hóa mô hình thực nghiệm và quy trình phân tích:
- Thiết lập hai phương trình hồi quy bảng (*) và (**).
- Định nghĩa chi tiết các biến phụ thuộc, biến giải thích, biến tương tác và biến kiểm soát vĩ mô.
- Mô tả mẫu nghiên cứu gồm 68 quốc gia và vùng lãnh thổ trong giai đoạn 2013 – 2019.
- Trình bày cơ sở kỹ thuật của các phương pháp ước lượng WLS BE, GLS RE nhằm khắc phục khuyết tật phương sai thay đổi và tự tương quan; thiết lập quy trình ước lượng System GMM hai bước để kiểm soát nội sinh.
- Thiết kế các kịch bản kiểm định tính vững và hai nội dung phân tích mở rộng: phân tách theo hình thức tín dụng (P2P lending, balance sheet lending, BigTech credit) và phân tích theo mức độ rõ ràng của quy định pháp lý.
Chương 4. Kết quả nghiên cứu
Chương 4 báo cáo các kết quả ước lượng thực nghiệm và thảo luận học thuật:
- Thống kê mô tả biến, ma trận tương quan và kết quả các kiểm định chẩn đoán mô hình (Breusch-Pagan, Wooldridge).
- Kết quả ước lượng tác động của TCPCT đến TD CNTC tổng thể: Xác định ba khía cạnh văn hóa có ý nghĩa thống kê bền vững gồm E ngại sự không chắc chắn (UAI) mang hệ số âm, Khoảng cách quyền lực (PDI) mang hệ số âm, và Định hướng dài hạn (LTO) mang hệ số dương. Ba khía cạnh còn lại (IDV, MAS, IVR) không thể hiện tác động có ý nghĩa thống kê trong mô hình tổng thể khi kiểm soát đồng thời các yếu tố thể chế và vĩ mô.
- Kết quả phân tích theo các hình thức TD CNTC thành phần:
- Đối với tín dụng từ các nền tảng CNTC (cả P2P lending và Balance sheet lending): Tác động của UAI (-), PDI (-) và LTO (+) duy trì nhất quán.
- Đối với tín dụng từ các công ty công nghệ lớn (BigTech credit): Khía cạnh UAI mất ý nghĩa thống kê; bên cạnh PDI (-) và LTO (+), các khía cạnh Chủ nghĩa cá nhân (IDV) và Định hướng tận hưởng (IVR) thể hiện tác động dương có ý nghĩa thống kê.
- Kết quả ước lượng tác động của việc ban hành quy định điều tiết ($RegTech$): Biến $RegTech_{t-1}$ tác động dương trực tiếp đến sự phát triển TD CNTC; đồng thời các hệ số tương tác chỉ ra rằng việc ban hành quy định giúp giảm thiểu đáng kể tác động tiêu cực của UAI và PDI đến TD CNTC. Không tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa về tác động bổ sung của quy định đối với khía cạnh LTO.
- Phân tích mức độ rõ ràng của quy định: Mức độ rõ ràng trong quy định càng cao thì tác động tiêu cực biên của UAI và PDI càng được thu hẹp.
Chương 5. Kết luận và hàm ý chính sách
Chương 5 tổng kết các kết quả nghiên cứu chính; đề xuất các hàm ý chính sách chung cho các nhà quản lý tài chính quốc tế và các hàm ý chính sách chuyên biệt đối với Việt Nam trong việc xây dựng khung pháp lý điều tiết và cơ chế thử nghiệm (regulatory sandbox) cho hoạt động TD CNTC; trình bày các hạn chế về dữ liệu và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Những phát hiện và đóng góp mới của luận án
- Khắc phục hạn chế phương pháp luận của các nghiên cứu trước: Luận án đánh giá tác động của TCPCT trong một mô hình tích hợp đồng thời cả TCCT và TCPCT, tôn trọng tính cấu trúc đan xen của môi trường thể chế theo lý thuyết của North (1990). Khác với các nghiên cứu hồi quy đơn lẻ trước đây kết luận hầu hết các khía cạnh văn hóa đều có tác động, luận án chứng minh rằng khi được kiểm soát đầy đủ, chỉ có ba khía cạnh chi phối cốt lõi đến TD CNTC tổng thể: Định hướng dài hạn (thúc đẩy), E ngại sự không chắc chắn (kiềm hãm) và Khoảng cách quyền lực (kiềm hãm).
- Phát hiện tính không đồng nhất giữa các hình thức TD CNTC: Luận án là công trình thực nghiệm bóc tách chi tiết tác động của TCPCT đối với từng loại hình tín dụng:
- Tín dụng nền tảng (P2P lending và Balance sheet lending) chịu sự chi phối chủ yếu bởi LTO (+), UAI (-) và PDI (-).
- Tín dụng BigTech không bị cản trở bởi mức độ e ngại sự không chắc chắn (UAI), đồng thời được thúc đẩy bởi chủ nghĩa cá nhân (IDV) và xu hướng tận hưởng (IVR), nhờ vào hệ sinh thái dữ liệu số sẵn có và trải nghiệm người dùng tích hợp.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm đầu tiên về vai trò điều chỉnh của quy định pháp lý: Luận án chứng minh bằng thực nghiệm rằng việc ban hành các quy định pháp lý chuyên biệt ($RegTech$) có thể bù đắp khoảng trống thể chế và làm suy giảm đáng kể các rào cản tâm lý - văn hóa bất lợi (UAI cao và PDI cao) đối với việc tiếp nhận tín dụng công nghệ.
- Xác định vai trò của mức độ rõ ràng trong quy định pháp lý: Mức độ chi tiết và rõ ràng của các quy định ban hành càng cao thì hiệu quả giảm thiểu các tác động biên bất lợi từ văn hóa e ngại rủi ro và khoảng cách quyền lực càng lớn.
Kiến nghị và hàm ý chính sách
- Hàm ý chính sách chung: Các cơ quan quản lý không nên thụ động chờ đợi thị trường tự điều chỉnh mà cần chủ động ban hành các quy định pháp lý cụ thể, rõ ràng cho hoạt động TD CNTC. Việc thiết lập khung pháp lý minh bạch là giải pháp hữu hiệu để giảm thiểu sự không chắc chắn, bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy sự chấp nhận công nghệ tài chính tại các quốc gia có nền văn hóa e ngại rủi ro cao.
- Hàm ý đối với Việt Nam: Cần nhanh chóng hoàn thiện khung khổ pháp lý thử nghiệm có kiểm soát (regulatory sandbox) cho hoạt động Fintech; ban hành quy định rõ ràng về quyền hạn, trách nhiệm và chuẩn mực an toàn thông tin cho các nền tảng cho vay ngang hàng; tăng cường cơ chế bảo vệ người đi vay và minh bạch hóa dữ liệu nhằm củng cố niềm tin thị trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Giới hạn thời gian: Khung thời gian nghiên cứu dừng lại ở năm 2019 do sự sẵn có của dữ liệu TD CNTC toàn cầu tại thời điểm thực hiện luận án, chưa bao quát được các biến động của giai đoạn sau đại dịch COVID-19.
- Đo lường thể chế phi chính thức: Do giới hạn về dữ liệu định lượng đa quốc gia, luận án tập trung đo lường TCPCT thông qua sáu khía cạnh VHQG theo mô hình Hofstede, chưa thể lượng hóa trực tiếp các yếu tố phi chính thức khác như phong tục địa phương, quy ước tôn giáo hoặc các chuẩn mực đạo đức kinh doanh đặc thù.
- Đo lường sự phát triển TD CNTC: Luận án tiếp cận sự phát triển TD CNTC chủ yếu qua quy mô dư nợ (tỷ lệ trên GDP và bình quân đầu người), chưa thể đo lường sâu về chất lượng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu, hay hiệu quả vận hành chi tiết của các tổ chức cho vay do thiếu hụt dữ liệu thống kê công khai ở cấp độ quốc gia.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng chuỗi dữ liệu sang các năm sau 2019 nhằm đánh giá tác động của các cú sốc kinh tế vĩ mô và sự hoàn thiện của các khung pháp lý mới ban hành đối với thị trường TD CNTC.
- Khảo sát và bổ sung các thước đo định lượng khác về TCPCT (chẳng hạn như vốn xã hội, chuẩn mực cộng đồng số).
- Đi sâu phân tích chất lượng tín dụng, hành vi vỡ nợ và tính bền vững của các mô hình kinh doanh TD CNTC tại từng nhóm quốc gia cụ thể.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh và học giả kinh tế, tài chính, thể chế: Cung cấp tài liệu tham khảo về khung phân tích kết hợp giữa Kinh tế học thể chế mới, UTAUT và Chi phí giao dịch; tham khảo phương pháp xử lý dữ liệu bảng với các biến không đổi theo thời gian bằng kỹ thuật WLS BE, GLS RE và SGMM hai bước.
- Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính): Cung cấp cơ sở thực nghiệm khẳng định tầm quan trọng của việc ban hành quy định rõ ràng nhằm hóa giải rào cản tâm lý e ngại rủi ro của người dân, hỗ trợ thiết kế cơ chế thử nghiệm chính sách (sandbox) và quản lý thị trường tài chính số.
- Các nhà quản trị doanh nghiệp Fintech, BigTech và Ngân hàng thương mại: Cung cấp thông tin về sự khác biệt văn hóa giữa các thị trường quốc gia, hỗ trợ hoạch định chiến lược bản địa hóa sản phẩm tín dụng, thiết kế trải nghiệm người dùng và xây dựng quy trình chấm điểm tín dụng phù hợp với đặc tính của từng nền kinh tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm tín dụng công nghệ tài chính trong luận án được định nghĩa như thế nào?
Luận án áp dụng định nghĩa của BIS-FSB (2017) và Claessens và cộng sự (2018), theo đó TD CNTC bao gồm tất cả các hoạt động tín dụng được thực hiện thông qua các nền tảng điện tử trực tuyến không do các ngân hàng thương mại truyền thống vận hành. TD CNTC gồm hai nhánh: Tín dụng qua nền tảng công nghệ tài chính (Fintech platforms' credit) và Tín dụng từ các công ty công nghệ lớn (BigTech credit).
2. Ba đặc trưng cốt lõi phân biệt TD CNTC với tín dụng ngân hàng truyền thống là gì?
Ba đặc trưng gồm: (1) Chủ thể cho vay ngoài hệ thống ngân hàng thương mại nhận tiền gửi; (2) Quy trình tương tác giữa người vay và người cho vay diễn ra hoàn toàn trực tuyến trên nền tảng số; (3) Quy trình thẩm định, sàng lọc và giám sát khoản vay ứng dụng thuật toán học máy và dữ liệu phi truyền thống (dấu chân điện tử, thông tin mềm).
3. Những khía cạnh văn hóa quốc gia nào tác động có ý nghĩa thống kê đến sự phát triển TD CNTC tổng thể?
Sau khi kiểm soát các biến thể chế chính thức và vĩ mô, ba khía cạnh có ý nghĩa thống kê bền vững gồm: Định hướng dài hạn (LTO) có tác động tích cực (+); Mức độ e ngại sự không chắc chắn (UAI) và Khoảng cách quyền lực (PDI) có tác động tiêu cực (-).
4. Tác động của văn hóa quốc gia đến BigTech credit có điểm gì khác biệt so với tín dụng nền tảng?
Đối với BigTech credit, khía cạnh E ngại sự không chắc chắn (UAI) không còn tác động tiêu cực có ý nghĩa thống kê; đồng thời Chủ nghĩa cá nhân (IDV) và Định hướng tận hưởng (IVR) thể hiện tác động thúc đẩy dương có ý nghĩa thống kê, bên cạnh tác động tích cực của LTO và tác động tiêu cực của PDI.
5. Việc ban hành quy định pháp lý điều tiết ($RegTech$) đóng vai trò gì đối với tác động của thể chế phi chính thức?
Việc ban hành quy định pháp lý không chỉ thúc đẩy trực tiếp quy mô TD CNTC mà còn đóng vai trò điều chỉnh, làm suy giảm đáng kể các tác động cản trở của văn hóa e ngại sự không chắc chắn (UAI) và khoảng cách quyền lực (PDI). Mức độ quy định càng rõ ràng thì hiệu quả kiềm hãm các tác động bất lợi này càng cao.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Diễm Kiều là công trình nghiên cứu kinh tế lượng thực nghiệm phân tích toàn diện tác động của thể chế phi chính thức (đại diện bởi sáu khía cạnh văn hóa quốc gia theo Hofstede) và vai trò điều chỉnh của khung pháp lý đối với sự phát triển tín dụng công nghệ tài chính trên mẫu 68 nền kinh tế giai đoạn 2013 – 2019. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng định hướng văn hóa dài hạn thúc đẩy tín dụng công nghệ phát triển, trong khi mức độ e ngại rủi ro và khoảng cách quyền lực cao tạo ra rào cản đối với loại hình tín dụng này. Đồng thời, việc ban hành các quy định pháp lý chuyên biệt với mức độ rõ ràng cao đóng vai trò then chốt trong việc giảm thiểu các rào cản văn hóa bất lợi, cung cấp hàm ý thực tiễn quan trọng cho việc hoàn thiện thể chế tài chính số tại các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam.