Chương 1: Những vân đề lý luận về cơ chế quản lý tài chính trong công ty cô phần Chương 2: Thực trạng cơ chế quan lý tài chính trong Công ty cổ phần Tin học-Viễn thông Hàng không Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong Công ty Cô phần Tin học-Viễn thông Hàng không 3 Chuong 1 NHŨNG VẤN ĐÊ LÝ LUẬN VÈ c o CHÉ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY CỞ PHẦN 1. KHÁI QUÁT VẺ CÔNG TY CỎ PHẦN 1. Khái niệm công ty cỗ phần Công ty cổ phần (CTCP) là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Theo điều 77 luật doanh nghiệp 2005 của Việt Nam, công ty cổ phần được định nghĩa như sau.
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: - Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cố phần; - Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; sổ lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; - Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; - Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; - Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứ^g nhận đăng ký kinh doanh; ( - Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn. Những đặc trưng CO’ bản của công ty cổ phần Bộ máy công ty cổ phần được cơ cấu theo luật pháp và điều lệ công ty với nguyên tắc cơ cấu nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, minh bạch và hoạt động có hiệu quả. Công ty cổ phần phải có đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị và ban điều hành. Đối với công ty cổ phần có trên 11 co đông là cá 4 nhân hoặc tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có ban kiểm soát.
Cơ quan tối cao của công ty cổ phần là đại hội đồng cổ đông. Các cổ đông sẽ tiến hành bầu ra hội đồng quản trị với: chủ tịch hội đồng quản trị, các phó chủ tịch và thành viên (kiêm nhiệm và không kiêm nhiệm). Sau đó, hội đồng quản trị sẽ tiến hành thuê, bổ nhiệm giám đốc (tổng giám đốc) và/hoặc giám đốc điều hành. Hội đồng này cũng có thể tiến hành thuê, bổ nhiệm các phó giám đốc (phó tổng giám đốc) hoặc ủy quyền cho ban giám đốc công ty làm việc này.
Quan hệ giữa hội đồng quản trị và ban giám đốc là quan hệ quản trị công ty. Quan hệ giừa ban giám đốc và cấp dưới, người lao động là quan hệ quản lý. Các cá nhân hay to chức sở hữu cổ phần được gọi là co đông. Mồi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phần, cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu.
Chỉ có công ty cổ phần mới được phát hành cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu chính là một bằng chứng xác nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu. Công ty cổ phần có thể phát hành nhiều loại cổ phần, trong đó phải có cổ phần phổ thông. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông.
Ngoài cổ phần phố thông, công ty có thể phát hành cố phần ưu đãi, bao gồm: cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định. Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi. Trong các loại cổ phần ưu đãi trên thì cổ phần ưu đãi biểu quyết chịu một sổ ràng buộc như: chỉ có tổ chức được chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết, ưu đãi biểu 5 quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông. Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cố phần ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định hoặc do đại hội đồng cổ đông quyết định.
Ngoài ra, cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi, trong khi cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành cổ phần phổ thông theo quyết định của đại hội đồng cổ đông. Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nỏ các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau. Việc tách rời quyền sở hữu khỏi các nhà quản lý mang lại cho công ty các ưu thế sau: - Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho cổ đông mới, do vậy phạm vi đổi tượng được tham gia công ty cổ phần rộng, ngay cả các cán bộ công chức cũng có quyền mua cổ phiếu của công ty cổ phần. - Sự tồn tại của công ty không phụ thuộc việc thay đổi lượng cố đông.
- Quy mô hoạt động lớn và khả năng mở rộng kinh doanh dễ dàng từ việc huy động vốn cổ phần. - Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông góp vào công ty. Bên cạnh đó, còn có những hạn chế: - Mức thuế tương đối cao vì ngoài thuế mà công ty phải thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, các cô đông còn phải chịu thuê thu nhập bô sung từ nguồn cổ tức và lãi cổ phần theo qui định của luật pháp. - Chi phí cho việc thành lập công ty khá tổn kém.
- Khả năng bảo mật kinh doanh và tài chính bị hạn chế do công ty phải công khai và báo cáo với các cô đông. 6 - Khả năng thay đổi phạm vi lĩnh vực kinh doanh cũng như trong hoạt động kinh doanh không linh hoạt do phải tuân thủ theo những qui định trong điều lệ của công ty, ví dụ có trường họp phải do đại hội đồng cổ đông của công ty cổ phần quyết định. CO CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái niệm cơ chế quản lý tài chính trong công ty cổ phần Quản lý tài chính giừ một vị trí quan trọng trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp.
Đặc biệt, trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, trong điều kiện cạnh tranh đang diễn ra khốc liệt trên quy mô toàn thế giới như hiện nay, quản lý tài chính trở nên quan trọng hon bao giờ hết. Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhàm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lý tài chính là sự tác động của nhà quản lý tới các hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Nó được thực hiện thông qua một cơ chế đó là cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp.
Cơ chế là những cách thức, những phương thức qua đó người ta thực hiện quá trình hoạt động của mình. Cơ chế quản lý là một hệ thống các nguyên tắc, hình thức, phương pháp quản lý trong nhũng giai đoạn phát triển khác nhau của nền sản xuất xã hội. Tài chính doanh nghiệp là quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế gồm: nhà nước, thị trường khác, nội bộ doanh nghiệp. Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp được hiểu là một tổng thê các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận dụng để quản lý các hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Nội dung cơ chế quản lý tài chính trong công ty cổ phần Cơ chế quản lý tài chính được cấu thành bởi các yếu tổ cơ bản sau: chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục đích quản lý, phương thức quản lý, môi trường và điều kiện tổ chức. Nội dung của cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp gồm: cơ chế quản lý tài sản; cơ chế quản lý vốn; cơ chế quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận; cơ chế kiểm soát tài chính. Cơ chế quản ỉỷ tài sản Quản lý tài sản là một trong những nội dung quan trọng của quản trị tài chính. Mục tiêu của quản lý tài sản là đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất.
Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng. Đối với công ty cổ phần, tài sản là toàn bộ tiền vốn, tài sản, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác thuộc quyền quản lý, sử dụng của công ty cô phần, được dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ kinh doanh. Cơ chế quản lý tài sản bao gồm các phương pháp, các hình thức phân phối, điều hòa tài sản nhằm quản lý khai thác tài sản của doanh nghiệp một cách hiệu quả nhất. Quản lý tài sảỹ trong công ty cổ phần bao hàm nhiều vẩn đề khác nhau với nội dung phức tấp, nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng, tránh thất thoát, hư hỏng và tạo đòn bẩy kích thích.
Đe có cơ chế quản lý phù hợp, tài sản được phân loại theo chu kỳ sản xuất, gồm tài sản cổ định và tài sản lưu động. Việc quản lý tài sản dựa trên các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản lưu động và hiệu quả sử dụng tài sản cố định. Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp vào 8 hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí. Quản lý tài sản lưu động “Tài sản lưu động (TSLĐ) là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh.
Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản lưu động được thể hiện ở các bộ phận: tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho. Quản lý sử dụng họp lý các loại tài sản lưu động có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Xác định nhu cầu về tài sản ngắn hạn là nội dung quan trọng trong cơ chế quản lý và sử dụng vốn lưu động, vấn đề nâng cao vòng quay vốn lưu động luôn được các công ty lưu tâm.