Chương 1: Tổng quan về đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Các vấn đề chung về thẻ ngân hàng 2.1 Khái niệm Thẻ ngân hàng là một loại công cụ thanh toán hiện đại do ngân hàng phát hành và bán cho các đơn vị và cá nhân, để họ sử dụng trong thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ. hoặc rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hay tại các quầy trả tiền tự động nên thường gọi là thẻ ATM. Ở các nước có nền kinh tế phát triển với công nghệ ngân hàng hiện đại, thì thẻ thanh toán được được sử dụng rất rộng rãi và phổ biến. Ở Việt Nam, do yêu cầu đẩy nhanh công tác thanh toán, mở rộng phạm vi thanh toán cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã từng bước trang bị hệ thống thông tin hiện đại tiên tiến, cho phép áp dụng những công cụ thanh toán mới để bổ sung cho công cụ thanh toán trong nền kinh tế.2 Phân loại thẻ ngân hàng Về hình thức, thẻ thanh toán có nhiều loại khác nhau, trước mắt ở Việt Nam phát hành và sử dụng hai loại sau đây: Thẻ ghi nợ (Debit card): Thẻ ghi nợ áp dụng rộng rãi cho mọi khách hàng trong nước và nước ngoài, với điều kiện là khách hàng phải lưu ký tiền vào một tài khoản riêng tại ngân hàng tức là phải ký quỹ tại ngân hàng một số tiền (được hưởng lãi) và được sử dụng thẻ có giá trị bằng số tiền ký quỹ đó để thanh toán.
Những khách hàng (chủ thẻ) đặc biệt, được ngân hàng tin tưởng, được phép chi vượt số dư tài khoản của mình trong hạn mức cho phép (thấu chi). Thấu chi thường chỉ áp dụng cho các doanh nhân, những người có vị trí và nổi tiếng trong xã hội và những người có thể chứng minh khả năng tài chính ổn định. Thẻ tín dụng (Credit card): Thẻ tín dụng là loại thẻ áp dụng cho những khách hàng có đủ điều kiện được ngân hàng phát hành thẻ cho vay vốn để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt. Đối với những khách hàng này, sau khi ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng sẽ được cấp một thẻ tín dụng với một hạn mức được ghi vào bộ nhớ của thẻ để thanh toán.
Chủ thẻ không nhất thiết phải có tài khoản tại ngân hàng phát hành thẻ. Sau khi sử dụng thẻ khách hàng phải trả nợ gốc cho ngân hàng 5 phát hành thẻ trong thời gian quy định. Nếu trễ hạn thì phải trả lãi theo thỏa thuận với ngân hàng.2 Vai trò của thẻ ATM Thẻ ATM có vai trò và tiện ích rất lớn đối với nhiều chủ thể trong xã hội.1 Đối với nền kinh tế Với tư cách là một công cụ thanh toán không dùng tiền mặt, thẻ thanh toán có vai trò và ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế xã hội. Thẻ thanh toán thu hút tiền gửi của các tầng lớp dân cư vào ngân hàng và giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, góp phần giảm chi phí phát hành tiền giấy, vận chuyển, lưu trữ cũng như tiêu hủy tiền.
Thanh toán thẻ tăng nhanh chu chuyển thanh toán trong nền kinh tế, do hầu hết mọi giao dịch trong phạm vi quốc gia cũng như toàn cầu đều được thực hiện và thanh toán trực tuyến (online). Thẻ thanh toán tạo cơ sở cho việc thực hiện tốt chính sách quản lý kinh tế và tạo nền tảng để tăng cường quản lý thuế của cá nhân cũng như của doanh nghiệp đối với Nhà nước. Nhà nước cũng như ngân hàng có thể kiểm soát mọi hoạt động giao dịch của bất cứ thẻ nào do bất cứ ngân hàng thương mại trong nước phát hành. Dịch vụ thẻ ngân hàng sẽ là một phương tiện tốt giúp thực hiện những chính sách kích cầu của Chính phủ.
Thêm vào đó, chấp nhận thanh toán thẻ đã tạo môi trường thu hút khách du lịch và các nhà đầu tư vào Việt Nam, cải thiện môi trường văn minh thương mại và văn minh thanh toán, nâng cao hiểu biết của dân cư về các ứng dụng công nghệ tin học trong phục vụ đời sống.2 Đối với Ngân hàng Khi khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ ngân hàng đồng nghĩa với việc khách hàng đang sở hữu một tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng, số tiền khách hàng duy trì trong thẻ chính là nguồn huy động vốn lớn đối với ngân hàng. Hiện nay, theo quyết định số 2173/QĐ-NHNN của NHNN Việt Nam ban hành ngày 28 tháng 10 năm 2014 quy định lãi suất phải trả cho tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng tối đa là 1%/năm. Với mức chi phí huy động vốn như trên thì đây là một kênh huy động vốn giá rẻ đối với ngân hàng. Khi khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản thì đây chính là điều kiện để tạo tiền ghi sổ, khi đó chức năng tạo tiền của ngân hàng được thực hiện.
Ngoài ra, qua tài khoản thanh toán này ngân hàng có thể cấp tín dụng cho khách hàng dưới hình thức thấu chi tài khoản dựa trên tài sản cầm cố, thế chấp hay tín chấp. Những khách hàng sử dụng thẻ tín dụng được ngân hàng cấp một hạn mức tín dụng 6 theo đó khách hàng sẽ được chi tiêu, thanh toán hàng hóa dịch vụ trong hạn mức tín dụng được cấp. Phương pháp này vừa đơn giản vừa an toàn, giúp ngân hàng mở rộng tín dụng, mở rộng thị trường. Bằng việc gia tăng các tiện ích của thẻ nói riêng và nâng cao chất lượng các dịch vụ ngân hàng nói chung, ngân hàng không chỉ duy trì mối quan hệ với khách hàng cũ mà còn thu hút thêm khách hàng mới.
Điều này góp phần phân tán rủi ro, tăng tính cạnh tranh và tăng lợi nhuận của ngân hàng. Mặc dù thu nhập từ việc cung cấp dịch vụ thẻ chiếm tỷ trọng không lớn trong thu nhập của ngân hàng, nhưng đây vẫn là nguồn thu tương đối ổn định và không ngừng tăng lên trong thời gian tới. Thêm vào đó, phát triển loại hình dịch vụ này còn tạo điều kiện để ngân hàng mở rộng quan hệ với các ngân hàng, các tổ chức tài chính trên thế giới. Từ đó, ngân hàng có thể học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật và nâng cao vị thế của ngân hàng trên thị trường.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong điều kiện kinh tế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế như hiện nay.3 Đối với khách hàng Sản phẩm thẻ cung cấp cho khách hàng một kênh giao dịch nhanh chóng và tiện lợi. Theo một nghiên cứu của ngân hàng Techcombank, thay vì tốn khoảng 45 phút để đến và chờ đợi các giao dịch viên của ngân hàng phục vụ, mỗi người chỉ cần vài phút đứng trước “ngân hàng tự động” gần nơi ở hay nơi làm việc cùng các thao tác đơn giản để đáp ứng ngay mọi nhu cầu tài chính của mình. Đặc biệt, khi giao dịch tại các máy ATM, khách hàng có thể giao dịch bất cứ khi nào. Bên cạnh đó, thẻ ATM hiện đại có thể tích hợp các nhiều chức năng trong cùng một dịch vụ, từ các nhu cầu giao dịch cơ bản như rút tiền, chuyển khoản đến các nhu cầu giao dịch thanh toán cho đời sống hàng ngày như: thanh toán hóa đơn tiền điện, tiền nước, thanh toán thẻ tín dụng, vé máy bay, cước điện thoại di động,… Từ giữa năm 2008, mạng lưới ATM của toàn thị trường đã cơ bản được liên thông với nhau.
Sự liên kết giữa những ngân hàng với Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) - đây là đơn vị trung gian thanh toán được Ngân hàng Nhà nước cấp phép cung ứng dịch vụ chuyển mạch tài chính và dịch vụ bù trừ điện tử tại Việt Nam - đã giúp khách hàng của ngân hàng này thực hiện các giao dịch trên ATM của ngân hàng khác một cách dễ dàng, thuận lợi với mức phí hợp lý. Ngoài ra, thanh toán bằng thẻ là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt tương đối an toàn. Khách hàng không phải mang theo bên mình hay cất trữ tại nhà lượng tiền mặt lớn, việc này làm giảm bớt rủi ro mất tiền cho khách hàng. Bên cạnh đó, trong trường hợp khách hàng mất thẻ hoặc nghi ngờ bị lộmã số cá nhân thì không 7 có nghĩa là hoàn toàn bị mất tiền, vì nếu khách hàng thông báo kịp thời cho ngân hàng để tạm thời khóa thẻ thì khách hàng vẫn bảo toàn được số tiền trong tài khoản của mình.
Cùng với xu hướng khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt của Chính phủ, các doanh nghiệp trong nước cũng kết hợp với các ngân hàng cho ra các sản phẩm thẻ thường được gọi là thẻ liên kết, hay thẻ đồng thương hiệu. Khi sử dụng thẻ này, ngoài việc được hưởng những ưu đãi khi mở thẻ tại ngân hàng, khách hàng còn được nhận những khoản chiết khấu khi đi mua sắm tại những điểm liên kết với ngân hàng. Cuối cùng, khi sử dụng thẻ ngân hàng chủ thẻ còn được hưởng lãi trên tài khoản tiền gửi mặc dù mức lãi suất không cao. Tuy nhiên, đây cũng là nguồn lợi khách hàng được hưởng thay cho hình thức sử dụng tiền mặt trong tiêu dùng.4 Đối với đơn vị chấp nhận thẻ Thanh toán thẻ giúp các đơn vị chấp nhận thẻ tăng năng suất do giảm được chi phí kiểm đếm, vận chuyển, bảo quản tiền mặt, giảm rủi ro do tiền giả, tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông và tiết kiệm được chi phí giao dịch.
Đồng thời, việc đa dạng hóa các phương thức thanh toán, các doanh nghiệp, cửa hàng sẽ có thể tăng tính cạnh tranh, thu hút được nhiều khách hàng. Đặc biệt khi thanh toán bằng thẻ khách hàng có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn do không bị giới hạn số lượng tiền mặt mang theo, nhờ đó doanh nghiệp, cửa hàng có thể tăng doanh số bán hàng và mở rộng thị trường. Hơn thế nữa, khi làm đơn vị chấp nhận thẻ của các ngân hàng, các doanh nghiệp, cửa hàng có thể nâng cao được uy tín, tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp, cửa hàng năng động, hiện đại. Khi làm đơn vị chấp nhận thẻ của các ngân hàng, doanh nghiệp, cửa hàng dễ dàng triển khai các chương trình khuyến mãi đến khách hàng và có thêm cơ hội được giới thiệu với công chúng thương hiệu của mình bằng hình thức quảng cáo trên máy ATM của các ngân hàng.