Chương 1 Giới thiệu đề tài. Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3 Thiết kế nghiên cứu. Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5 Kết luận và hàm ý quản trị 5 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 2.1 Tổng quan về lý thuyết và các nghiên cúu 2.1 Khái niệm về thanh toán điện tử 2.
ỉ Khái niệm về thanh toán Thanh toán là việc chuyển giao tài sản từ một bên (cá nhân hoặc công ty, tổ chức) sang bên khác, thường được sử dụng khi trao đổi sản phẩm hoặc dịch vụ trong một giao dịch ràng buộc về mặt pháp lý.2 Khái niệm về thanh toán điện tử Sự bùng nổ của công nghệ thông tin và Internet đã tạo tiền đề cho thương mại điện tử phát triển. Với sự phát triển nhanh chóng trong những năm qua, Internet đã trở thành một phương tiện phổ biến cho truyền thông, dịch vụ và thương mại. Internet và thương mại điện tử đã làm thay đổi phương thức mua hàng truyền thống của người tiêu dùng. Người tiêu dùng sẽ không còn bị giới hạn về thời gian và địa điểm, họ có thể mua sản phẩm và dịch vụ ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào.
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và kỹ thuật số đã làm thay đổi môi trường kinh doanh trên thế giới, do đó các giao dịch kinh doanh cũng thay đổi từ giao dịch tiền mặt sang giao dịch tiền điện tử. Giao dịch giữa các đối tác kinh doanh tiếp tục phát triển trên nền tảng thương mại điện tử, giải pháp thanh toán điện tử xuất hiện thay thế hệ thống thanh toán tiền mặt (Trautman, 2015a). Trong môi trường thương mại điện tử, thanh toán trao đổi tiền dưới dạng điện tử được gọi là thanh toán điện tử, thanh toán điện tử là một phần không thể thiếu và là phần quan trọng nhất của thương mại điện tử nói chung. Thanh toán điện tử được sử dụng để thanh toán hàng hóa và dịch vụ được mua trực tuyến thông qua việc sử dụng Internet (Vol, 2021).
Tại Việt Nam, thanh toán điện tử ra đời từ năm 2008 với mô hình đầu tiên là ví điện tử (Trautman, 2015a). Hiện có nhiều doanh nghiệp khai thác mô hình ví điện tử nhưng ố theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước, chỉ có 9 doanh nghiệp như Payoo, MoMo, Mobivi, Ngân Lượng. được cấp phép thử nghiệm loại hình dịch vụ này. Trong hai thập kỷ qua, hệ thống thanh toán điện tử đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và thiết kế hệ thống thông tin do vai trò quan trọng của nó trong thưong mại điện tử hiện đại.
Điều này dẫn đến việc nghiên cứu và có những quan điểm khác nhau về định nghĩa thanh toán điện tử của một số nhà nghiên cứu. Những khái niệm này chủ yếu được nhìn nhận từ các góc độ khác nhau, từ các học giả trong lĩnh vực kế toán và tài chính, công nghệ kinh doanh và hệ thống thông tin. Ví dụ, (Abrazhevich, 2004) định nghĩa hệ thống thanh toán điện tử là một hình thức cam kết tài chính liên quan đến người mua và người bán thông qua việc sử dụng các phưong tiện liên lạc điện tử. (Briggs và Brooks, 2011) Thanh toán điện tử là hình thức liên kết giữa các tổ chức, cá nhân được hỗ trợ bởi các ngân hàng cho phép trao đổi tiền điện tử.
Ở một góc độ khác (Khan và cộng sự, 2017) coi hệ thống thanh toán điện tử là một phưong thức chuyển tiền qua Internet. Theo (Khan và cộng sự, 2017), hệ thống thanh toán điện tử đề cập đến một phưong tiện điện tử để thực hiện thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ được mua trực tuyến tại các siêu thị và trung tâm mua sắm. Một định nghĩa khác cho thấy, thanh toán điện tử là các khoản thanh toán trong môi trường thưong mại điện tử dưới hình thức đổi tiền thông qua các phưong tiện điện tử. Thanh toán điện tử là một cách thanh toán điện tử cho hàng hóa hoặc dịch vụ khi mua sắm, thay vì sử dụng tiền mặt hoặc séc, trực tiếp hoặc qua thư.
Hệ thống thanh toán điện tử thường được phân thành bốn loại: Thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, tiền điện tử, hệ thống thanh toán vi mô (Sumanjeet, 2009). Ngoài ra, (Tsiakis và Sthephanides, 2005) coi thanh toán điện tử là bất kỳ sự chuyển giao giá trị thanh toán điện tử nào của người trả tiền cho người thụ hưởng thông qua kênh thanh toán điện tử cho phép người tiêu dùng truy cập từ xa và quản lý tài khoản ngân hàng và giao dịch trực tuyến. Tóm lại, theo các định nghĩa trên, một hệ thống thanh toán điện tử có thể đon giản là một tập hợp các thành phần và quy trình cho phép hai hoặc nhiều 7 bên giao dịch và trao đổi giá trị tiền thông qua một phưong tiện, điện tử (Asokan và cộng sự, 1997).3 Sự khác nhau giữa thanh toán thanh toán điện tử và truyền thống. Tất cả các hệ thống thanh toán điện tử đều được thực hiện trên nền tảng kỹ thuật số, chúng được xây dựng và phát triển để thực hiện thanh toán trên IE (Boly và cộng sự, 1994).
về bản chất, nhiều hệ thống thanh toán điện tử là phiên bản điện tử của các hệ thống thanh toán truyền thống đang được sử dụng hàng ngày như tiền mặt, thẻ tín dụng, séc. Ngoài ra, điểm khác biệt lớn nhất giữa thanh toán điện tử và thanh toán truyền thống là thanh toán thông qua phưong tiện điện tử, loại bỏ phần lớn việc giao nhận giấy tờ, ký nhận truyền thống thay vào đó là các phưong thức xác thực, mói thực (GieBmann, 2018a). Mọi thứ đều được số hóa, ảo hóa bằng phưong pháp điện tử (Soldani và Manzalini, 2015). Thứ hai, theo (Klein và Mayer, 2011) trong thanh toán truyền thống, chỉ có ngân hàng mới có quyền phát hành tiền và giấy tờ có giá.
Đối với thanh toán điện tử, tiền và giá trị của nó được phát hành bởi tổ chức phát hành và được đảm bảo bằng cam kết chuyển đổi tiền điện tử thành tiền giấy theo yêu cầu của người sở hữu, sau đó là phưong thức giao dịch. Trước đây, hình thức mua bán người chủ yếu là gặp gỡ trực tiếp rồi thưong lượng để đi đến thỏa thuận đảm bảo lợi ích cho các bên. Như vậy vói hình thức mua bán này chúng ta phải mất thời gian đến tận nơi có hàng để mua, chưa kể trong quá trình di chuyển có thể xảy ra những bất trắc khó lường. Khi họ đến nơi, họ bắt đầu giao dịch và người mua trả tiền cho người bán.
Người bán có thể gặp rủi ro khi người mua vô tình hay cố ý sử dụng tiền giả. Các hệ thống thanh toán trong thương mại điện tử được thực hiện chủ yếu thông qua máy tính cá nhân và các thiết bị hỗ trợ kỹ thuật.2 Khái niệm về hệ sinh thái thanh toán điện tử Hệ sinh thái thanh toán (Hedman và Henningsson, 2015) được tạo thành từ sự kết hợp của những người chơi tương tác với nhau trong quá trình giao dịch thanh toán: 8 người phát hành và người mua, mạng thẻ tín dụng, bộ xử lý thanh toán, cổng thanh toán, tổ chức bán hàng độc lập và các đại lý giá trị gia tăng và người hỗ trợ thanh toán (Ngô Thanh Sang, 2011) Hệ sinh thái thanh toán điện tử là một phần không thể thiếu của nền kinh té kỹ thuật số hiện đại. Nó bao gồm các đối tác liên quan đến việc thanh toán điện tử như các tổ chức tài chính, nhà cung cấp dịch vụ thanh toán, nhà bán lẻ, ngân hàng, khách hàng và nhà phát triển. Mục đích của hệ sinh thái này là giúp cho việc thanh toán trở nên thuận tiện, nhanh chóng và an toàn hon đối với người dùng, đồng thời tăng cường quản lý tài chính của các doanh nghiệp.
Một trong những lợi ích đáng kể của hệ sinh thái thanh toán điện tử là tính tiện lợi và tốc độ trong việc thanh toán. Không như việc sử dụng tiền mặt, việc sử dụng thanh toán điện tử giúp cho người dùng có thể tiến hành thanh toán một cách nhanh chóng và dễ dàng hon. Vói các dịch vụ thanh toán trực tuyến, người dùng có thể tiến hành thanh toán từ bất kỳ đâu với một thiết bị kết nối internet. Thêm vào đó, hệ sinh thái thanh toán điện tử còn giúp cho các doanh nghiệp có thể xử lý thanh toán của khách hàng một cách hiệu quả hon, giảm thiểu thời gian và chi phí cho quá trình thanh toán.
Tuy nhiên, những vấn đề an ninh và bảo mật vẫn luôn là mối quan ngại lớn nhất của hệ sinh thái thanh toán điện tử. Việc giao dịch điện tử đòi hỏi người dùng phải chia sẻ các thông tin cá nhân và tài khoản tài chính, do đó việc bảo vệ thông tin cá nhân và tài khoản của người dùng là rất quan trọng. Hệ sinh thái thanh toán điện tử đòi hỏi các đối tác phải thực hiện các biện pháp bảo mật thông tin để đảm bảo tính an toàn và đáng tin cậy của hệ thống. Các công nghệ mới như blockchain và trí tuệ nhân tạo có thể được áp dụng để nâng cao tính an toàn và đáng tin cậy của hệ sinh thái thanh toán điện tử.3 Mô hình phân tích thứ bậc AHP (Analytic Hierarchy Process) Phưong pháp phân tích thứ bậc AHP (Analytic Hiearchy Process) (Saaty, 1988) là một kỹ thuật dùng để sắp xếp và phân tích các quyết định phức tạp, tạo sự thuận lợi cho việc ra quyết định của nhà quản trị.
Mô hình AHP được phát triển bởi Thomas 9 L.Saaty trong những năm 1970. Kỹ thuật này được dùng rộng rãi trong việc ra quyết định, từ quyết định đơn giản cho đến những quyết định phức tạp (Prusak và cộng sự, n. Để thực hiện quy trình phân tích thứ bậc của các tiêu chí nhất định, nhà quản trị cần thực hiện hai việc cơ bản: - So sánh và chỉ ra thứ hạng ưu tiên của các quyết định. - Đánh giá tính nhất quán trong toàn bộ quá trình sắp xếp thứ hạng các ưu tiên.
Tính nhất quán là tính thống nhất về phương pháp và lập luận trong việc đánh giá hoặc nhận xét. Theo Saaty (2008) thì mức độ nhất quán phải đạt 90 % trở lên thì kết quả phân tích thứ hạng mới đáng tin cậy. Quy trình thực hiện: (Management, 2009) Bước 1: Thu thập thông tin các tiêu chí lựa chọn cần so sánh. Bước 2: Xây dựng danh mục các tiêu chí lựa chọn để ra quyết định.
Bước 3: Thiết lập thứ tự ưu tiên các tiêu chí. Bước 4: So sánh từng cặp tiêu chí với nhau, nếu tiêu chí A quan trọng gấp đôi tiêu chí B thì đồng nghĩa với việc, tiêu chí B quan trọng bằng 14 tiêu chí A.