CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG INTERNET BANKING CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1.1 Tổng quan về Internet banking 1.Khái niệm về dịch vụ Internet banking Nhìn chung ngày nay có khá nhiều cách định nghĩa về IB của nhiều tác giả, cùng các tổ chức trên thế giới và tại Việt Nam. IB là dịch vụ NH mà qua đó người dùng có thể sử dụng các loại dịch vụ NH khác nhau, từ đầu tư đến thanh toán hóa đơn (Pikkarainen và cộng sự, 2004). IB gồm các hình thức cho vay, chuyển khoản , tra cứu sao kê tài khoản… được NH cung cấp thông qua Internet (Baraghani, 2007). Người dùng có thể tiến hành các hoạt động như IB như là một kênh phân phối dịch vụ NH từ xa bao gồm các dịch vụ NH truyền thống như chuyển khoản, in sao kê tài khoản và các dịch vụ NH mới như thanh toán điện tử và trả lương trực tiếp vào tài khoản vay (Furst và cộng sự, 2000).
IB là việc mà NH cung cấp cho các khách hàng thông tin về dịch vụ thông qua điện thoại, ti vi hoặc máy tính (Daniel & Storey, 1997). Chỉ với một cú nhấp chuột đơn giản, IB cho phép khách hàng tiếp cận vào hầu hết các loại giao dịch NH, nhưng bỏ qua giao dịch cuối cùng, đó là rút tiền mặt (DeYoung, 2001). Sử dụng Internet như một kênh thay thế để phân phối các dịch vụ tài chính đã trở thành một nhu cầu cần thiết để đạt được lợi thế cạnh tranh với sự xuất hiện của toàn cầu hóa và nhiều cạnh tranh thù địch hơn (Flavián và cộng sự, 2004). Dịch vụ IB giúp khách hàng chủ động kiểm soát được tài khoản cá nhân của mình hơn, chỉ cần truy cập vào website của NH sau đó truy cập thông tin tài khoản là có thể thực hiện được các giao dịch tài chính.
Tuy nhiên khi tài khoản truy cập khách hàng cần có mật khẩu thông tin đủ mạnh để tránh được những rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra (Nguyễn Đăng Dờn, 2009). Tóm lại, IB là một trong những kênh phân phối chủ đạo các sản phẩm, dịch vụ của NH điện tử giúp khách hàng có thể giao dịch một cách dễ dàng hơn, bất cứ khi nào, bất cứ nơi đâu mà người dùng muốn mà không cần tốn quá nhiều thời gian, mất quá nhiều chi phí so với giao dịch trực tiếp tại quầy. Các tính năng phổ biến của IB Nhìn chung, hiện nay dịch vụ IB cung cấp khoảng 10-80 tính năng gồm cả cơ bản và nâng cao tùy theo khả năng về tài chính, nhân lực cũng như mức độ tiếp cận CNTT của mỗi NH. * Tính năng cơ bản: - Truy vấn thông tin từ tài khoản + Tra cứu thông tin các loại, thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng … + Tra cứu sao kê tài khoản + Tra cứu thông tin về tài khoản như: số dư hiện tại, lãi suất… - Thanh toán các loại hóa đơn: hóa đơn viễn thông, vé máy bay, nước, điện, du lịch… - Nạp tiền điện tử - Chuyển khoản cùng NH/ liên NH * Tính năng nâng cao - Gửi tiền có kì hạn online - Kích hoạt/ khóa tài khoản ATM - Lưu/ quản lí danh bạ thông tin người thụ hưởng… - Quản lí tài khoản tiết kiệm - Chuyển tiền định kì, tương lai… - Thanh toán/quản lí khoản vay - Gửi yêu cầu dịch vụ tới NH.
+ Đăng kí, thay đổi các dịch vụ E – banking khác như SMS – banking,… + Đăng kí, thay đổi dịch vụ nhận sao kê tài khoản hàng tháng qua email. + Yêu cầu tư vấn, giải đáp. Đặc điểm của dịch vụ IB - IB phụ thuộc nhiều vào các yếu tố công nghệ và hệ thống cơ sở hạ tầng. Ngày nay, lĩnh vực khoa học công nghệ không ngừng phát triển, mức độ phổ biến của dịch vụ Internet không ngừng tăng cao.
Kết cấu hạ tầng về CNTT và truyền thông sẽ giúp tạo ra các dịch vụ mang tính thuận tiện, chính xác, nhanh chóng và an toàn bởi IB được cung cấp dựa trên sự phổ biến rộng khắp phổ biến của mạng Internet. - Giao dịch được thực hiện phụ thuộc vào trình độ người sử dụng. 8 Khách hàng Việt Nam từ trước đến nay có thói quen giao dịch truyền thống trực tiếp tại quầy, dùng bằng tiền mặt để thanh toán, trong khi IB là một kênh phân phối mới đòi hỏi các NH đưa ra những chính sách, biện pháp phù hợp giúp cho khách hàng hiểu rõ hơn các tiện ích cũng như hướng dẫn họ sử dụng dịch vụ này. - IB mang lại cho khách hàng sự nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại do họ có thể sử dụng dịch vụ NH 24/24.
Sử dụng IB mang lại sự nhanh chóng thuận tiện và tiết kiệm tối đa thời gian không chỉ đối với khách hàng mà còn đối với cả hệ thống NH. Chỉ với một thiết bị di động (smartphone) nhỏ gọn, người dùng đã có thể thực hiện mọi giao dịch một cách nhanh chóng, không phải chờ đợi lâu. - Hiện nay, “các sản phẩm của IB gồm 3 cấp độ đang được sử dụng trên thị trường: cấp độ cung cấp thông tin, cấp độ trao đổi thông tin, cấp độ giao dịch” (Diniz, 1998). + Cấp độ cung cấp thông tin (informative) Cấp độ này sẽ cung cấp những thông tin cơ bản về sản phẩm và dịch vụ của NH cho khách hàng trên website tài liệu quảng cáo nhằm mục đích tiếp thị.
Người dùng có thể tự do truy cập vào trang web để tìm hiểu về các sảm phẩm/dịch vụ của NH. Vì vậy, rủi ro tương đối ít. + Cấp độ trao đổi thông tin (communicative) IB đã có sự tương tác nhất định giữa hệ thống của NH và khách hàng nhưng chỉ dừng lại ở việc truy vấn tài khoản, khởi tạo tài khoản mới, ứng dụng vay hoặc thế chấp, cập nhật thông tin liên hệ và số dư; người dùng không được phép thực hiện bất kì hoạt động chuyển tiền nào. Rủi ro cấp độ này cao hơn do các thông tin trên máy chủ có thể được kết nối với mạng nội bộ của hệ thống NH.
+ Cấp độ giao dịch (transactional) IB giao dịch cung cấp tất cả các lợi ích bao gồm toàn quyền kiểm soát tài khoản như gửi tiền, rút tiền, chuyển khoản, cập nhật và thanh toán trực tuyến. Các biện pháp bảo mật được gia tăng làm cho NH Internet trở nên an toàn, bảo mật và thuận tiện. Cấp độ này rủi ro cao nhất, mạng Internet nội bộ của NH rất có thể bị tấn công bất cứ lúc nào nếu việc kiểm soát, quản lí không chặt chẽ vì lúc này máy chủ đang được kết nối với mạng nội bộ của NH. Lợi ích và hạn chế của dịch vụ IB a, Lợi ích của dịch vụ IB 9 * Đối với NH - IB giúp NH tiết kiệm chi phí, tăng doanh thu và lợi nhuận (Malhotra & Singh, 2010).
Phí giao dịch IB được cho là không cao như giao dịch truyền thống. Các NH có thể giảm chi phí tiếp thị, bán hàng; tiết kiệm được chi phí mở thêm các phòng giao dịch hay mạng lưới chi nhánh nếu số lượng KHCN giao dịch tại quầy tăng đồng thời tiết kiệm các chi phí trong việc xử lí các chứng từ liên quan. Cùng với việc tiết kiệm thời gian và tiền bạc, dịch vụ này giảm thiểu khả năng giao dịch viên NH trong sai sót chứng từ, giấy tờ (Jayawardhena & Foley, 2000). Với chi phí thấp nổi trội như vậy, nhờ tiết kiệm các khoản phí mà NH có thể tăng doanh thu và lợi nhuận.
- IB có phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng, đa dạng hóa dịch vụ để có thể thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho NH (Thulani và cộng sự, 2009). Các sản phẩm IB đang ngày càng cải thiện và nâng cao, cung cấp nhiều tiện ích cho người dùng. Khách hàng có thể thực hiện các giao dịch 24/24 ở bất kì lúc nào, bất cứ nơi đâu mà mình mong muốn mà chỉ cần qua một phương tiện được kết nối với internet và có thể tiếp cận những dịch vụ do NH cung cấp một cách nhanh nhất mà không cần thiết phải đến tận phòng giao dịch, các giao dịch được thực hiện ngay lập tức. Thông qua IB cũng giúp NH quảng bá thương hiệu một cách hiệu quả, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh giữa các NH giúp tạo ra một lượng người dùng mới cho NH, gia tăng sự trung thành của khách hàng, giảm bớt số lượng khách hàng đang có ý định chuyển sang dịch vụ tài chính khác.
- IB giúp các NH tăng khả năng chăm sóc và thu hút khách hàng Thông qua IB, các NH thiết lập và mở rộng mối quan hệ với các khách hàng của mình giúp họ hoàn toàn có thể thỏa mãn với những dịch vụ trực tuyến, đấu giá trực tuyến, chuyển tiền online…một cách cực kì nhanh chóng, chính xác và hiệu quả. Chính những tiện ích này mà NH đã thu hút được một lượng lớn khách hàng tiềm năng và giữ chân được những khách hàng hiện tại đang sử dụng và giao dịch với NH. * Đối với khách hàng - IB mang lại sự tiện lợi và tiết kiệm thời gian Sự tiện ích mang lại cho khách hàng là một trong những điểm nổi trội của IB. Thời gian và địa điểm không còn là yếu tố giới hạn trong hoạt động NH vì người dùng hiện có thể dễ dàng truy cập tài khoản của họ 24/7 (Karjaluoto và cộng sự, 2002).
10 Không như những NH truyền thống nơi mà khách hàng phải hiện diện ở quầy giao dịch để thực hiện giao dịch, các kênh của NH trực tuyến luôn luôn sẵn sàng cho khách hàng bất cứ lúc nào, bất kể ngày hay đêm. - IB giúp khách hàng tiết kiệm chi phí Chi phí giao dịch qua IB không cao như việc khách hàng thực hiện giao dịch trực tiếp tại NH. Vì thế IB rất có lợi cho khách hàng bởi vì họ không cần phải tốn khoản chi phí di chuyển đến NH, không phải mất thời gian chờ đợi (Howcroft và cộng sự, 2002). - Dịch vụ IB có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả.
Các giáo dịch thông qua IB diễn ra nhanh hơn nhiều nếu so với giao dịch truyền thống hay tại các cây ATM. Chỉ cần truy cập vào trang web NH bằng thiết bị có kết nối mạng, sau đó đăng nhập tài khoản cá nhân là khách hàng có thể thực hiện các giao dịch tài chính một cách nhanh chóng và hiệu quả.