Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động TTQT tại NHTM + Chương 2 : Thực trạng về phát triển hoạt động TTQT tại Agribank - Chi Nhánh Ninh Thuận + Chương 3 : Giải pháp phát triển hoạt động TTQT tại Agribank - Chi Nhánh Ninh Thuận Page 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Tổng quan về hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động thanh toán quốc tế 1.1 Khái niệm : Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, TTQT là một trong số các nghiệp vụ của ngân hàng trong việc thanh toán giá trị của các lô hàng giữa bên mua và bên bán hàng thuộc lĩnh vực ngoại thương, tuy nhiên cũng có trường hợp đặc biệt không cần thông qua ngân hàng là thanh toán quốc tế qua tiền mã hóa (ví dụ: Bitcoin, Ethereum). Theo khái niệm trên, thanh toán quốc tế phát sinh khi có quan hệ giao thương giữa bên mua và bên bán có yếu tố nước ngoài và ngân hàng đóng vai trò trung gian trong thanh toán giữa hai bên. Thanh toán quốc tế xảy ra giữa các cá nhân hay tổ chức, giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ.
Nguyễn Văn Tiến (2017), TTQT là việc thực hiện nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với các tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan. Từ khái niệm trên cho thấy thanh toán quốc tế phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế, tuy nhiên trong thực tế giữa hai lĩnh vực này thường giao thoa với nhau, không có một ranh giới rõ rệt. Chính vì vậy, trong các quy chế về thanh toán và thực tế tại các NHTM, người ta thường phân loại hoạt động thanh toán quốc tế thành hai lĩnh vực rõ ràng là: thanh toán trong ngoại thương (hay thanh Page 10 toán mậu dịch) và thanh toán phi ngoại thương (hay thanh toán phi mậu dịch) Thanh toán phi ngoại thương là việc thực hiện thanh toán không liên quan đến hàng hoá xuất nhâp khẩu cũng như cung ứng lao vụ cho nước ngoài, nghĩa là thanh toán cho các hoạt động không mang tính thương mại. Đó là việc chi trả các chi phí của các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, các chi phí đi lại của các đoàn khách nhà nước, tổ chức và cá nhân, các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của cá nhân người nước ngoài cho cá nhân trong nước, các nguồn trợ cấp của một tổ chức từ thiện nước ngoài cho tổ chức, đoàn thể trong nước.
Thanh toán quốc tế trong ngoại thương là việc thực hiện trên cơ sở hàng hoá xuất nhập khẩu, và cung ứng các dịch vụ thương mại cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế. Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thương. Đinh Xuân Trình (2012), thanh toán quốc tế là việc thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh có liên quan tới các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa các tổ chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nước. Theo khái niệm này, thương mại quốc tế nói riêng cũng như hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung tất yếu làm nảy sinh các nghĩa vụ tiền tệ.
Hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại ra đời và phát triển là cần thiết khách quan để thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ đó. Thanh toán quốc tế có liên quan đến tiền tệ của các nước, do vậy thanh toán quốc tế liên quan chặt chẽ đến vấn đề tỷ giá hối đoái, chính sách quản lý ngoại hối của mỗi quốc gia. Thanh toán quốc tế liên quan đến tín dụng quốc tế. Thanh toán quốc tế liên quan đến các phương tiện và phương thức thanh toán quốc tế.
Qua những phân tích trên; chúng ta có thể hiểu thanh toán quốc tế được bắt nguồn từ hoạt động ngoại thương, thanh toán quốc tế là khâu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng và nhiều khi là khâu quyết định đến hiệu quả và tăng trưởng ngoại thương và mục đích chính của thanh toán quốc tế là để hỗ trợ và phục vụ cho hoạt Page 11 động xuất nhập khẩu giữa các nước diễn ra một cách trôi chảy và hiệu quả, giúp cho người bán hàng thu được tiền và người mua trả tiền để nhận hàng hóa. Vì thanh toán quốc tế được thực hiện qua hệ thống ngân hàng nên khi nói đến thanh toán quốc tế là nói đến hoạt động thanh toán của ngân hàng thương mại và không một ngân hàng thương mại nào lại không muốn phát triển các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế trong đó lấy thanh toán quốc tế làm trọng tâm phát triển. Đặc điểm Trầm Thị Xuân Hương (2014) cho rằng, hoạt động thanh toán quốc tế có các đặc điểm cơ bản sau : Thứ nhất, TTQT chịu sự điều chỉnh của luật pháp và các tập quán quốc tế. Hoạt động TTQT liên quan đến các chủ thể ở hai hay nhiều quốc gia, do đó, các chủ thể khi tham gia vào hoạt động TTQT không những chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia, mà còn phải tuân thủ các văn bản pháp lý quốc tế, các tập quán quốc tế do Phòng thương mại quốc tế ban hành như : UCP, URC, Incoterms.
Những văn bản này tạo ra một khung pháp lý bình đẳng, công bằng cho các chủ thể khi tham gia vào hoạt động thương mại và thanh toán quốc tế, tránh những hiểu lầm và tranh chấp đáng tiếc xảy ra. Thứ hai, hoạt động TTQT được thực hiện phần lớn thông qua hệ thống ngân hàng. Trừ một lượng rất nhỏ hàng hóa xuất nhập khẩu được mua bán thông qua con đường tiểu ngạch thì hầu hết kim ngạch xuất nhập khẩu của một nước được phản ánh qua doanh số thanh toán quốc tế của hệ thống NHTM. Trong thực tiễn, người xuất khẩu và người nhập khẩu không thể và không được phép tiến hành thanh toán trực tiếp cho nhau, mà theo luật định, nhất nhất phải thanh toán qua hệ thống ngân hàng.
Điều này cho thấy, trong thanh toán quốc tế sẽ có ít nhất hai ngân hàng tham gia, một ngân hàng phục vụ người xuất và một ngân hàng phục vụ người nhập ở hai nước khác nhau. Việc thanh toán qua ngân hàng đảm bảo cho các khoản chi trả được thực hiện một cách an toàn, nhanh chóng và hiệu quả. Page 12 Thứ ba, trong thanh toán quốc tế, tiền mặt hầu như không được sử dụng trực tiếp, mà thay vào đó là các phương tiện thanh toán như hối phiếu, kỳ phiếu và séc. Thứ tƣ, trong thanh toán quốc tế, ít nhất một trong hai bên (hoặc người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu) có liên quan đến ngoại tệ (trừ khu vực sử dụng đồng tiền chung).
Do đó, hoạt động thanh toán quốc tế chịu sự ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại hối quốc gia. Thứ năm, ngôn ngữ sử dụng trong thanh toán quốc tế được sử dụng chủ yếu bằng tiếng Anh. Thứ sáu, giải quyết tranh chấp chủ yếu bằng luật quốc tế; hoặc luật quốc gia của nước thứ ba; hoặc luật của nước người xuất hay nước người nhập do các bên thỏa thuận thông qua con đường trọng tài hay tòa án. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thƣơng mại 1.
Đối với nền kinh tế quốc dân Đinh Xuân Trình (2012), TTQT là cầu nối giữa kinh tế trong nước với kinh tế thế giới bên ngoài, có tác dụng bôi trơn và thúc đẩy hoạt động XNK hàng hóa và dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút kiều hối và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác… Trong bối cảnh hiện nay, mỗi quốc gia đều đặt hoạt động kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi nước. Nếu không có hoạt động thanh toán quốc tế thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó tồn tại và phát triển. Đối với các doanh nghiệp Đinh Xuân Trình (2012),TTQT là khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau; hoạt động Page 13 TTQT nhanh chóng, an toàn; chính xác sẽ giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hóa- tiền tệ giữa người mua và người bán một cách thông suốt và hiệu quả. TTQT của NHTM giúp nhà xuất khẩu kiểm soát được hàng hóa của mình cho đến khi được thanh toán hay được chấp nhận thanh toán.
TTQT của NHTM giúp nhà nhập khẩu kiểm soát được tiền của mình cho đến khi nhận được hàng hay có quyền nhận được hàng. Người nhập khẩu thanh toán, nhà xuất khẩu giao hàng thể hiện chất lượng của một chu kỳ kinh doanh, phản ánh hiệu quả kinh tế và tài chính của các doanh nghiệp. Đối với ngân hàng Đinh Xuân Trình (2012), hoạt động TTQT là một dịch vụ ngày càng quan trọng của NHTM, nó đem lại nguồn thu đáng kể không những về số tuyệt đối mà cả về tỷ trọng. TTQT còn là một mắc xích quan trọng trong việc chắp nối và thúc đẩy phát triển các hoạt động khác của ngân hàng như kinh doanh ngoại tệ, tài trợ xuất nhập khẩu, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tăng cường vốn huy động, đặc biệt là vốn bằng ngoại tệ.; tăng quy mô hoạt động của ngân hàng; tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng; giúp cho hoạt động ngân hàng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và hòa nhập với hệ thống ngân hàng thế giới.
Hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế Thanh toán quốc tế là một hoạt động đặc thù trên phạm vi quốc tế, do đó, nó cũng có hệ thống văn bản pháp lý đặc thù (nguồn luật riêng) để điều chỉnh. Hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động TTQT theo trình tự pháp lý giảm dần : Các nguồn luật và công ước quốc tế, Hiệp định đa biên và song biên, các nguồn luật quốc gia, thông lệ và tập quán quốc tế (văn bản pháp lý tùy ý). Nếu có mâu thuẩn giữa các nguồn luật thì : Luật quốc gia sẽ được ưu tiên vượt lên trên về tính chất Page 14 pháp lý đối với thông lệ và tập quán quốc tế; công ước và luật quốc tế sẽ được vượt lên trên về tính chất pháp lý đối với luật quốc gia. Thông lệ và tập quán quốc tế chỉ là những văn bản quy phạm pháp luật tùy ý.