CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm về cho vay khách hàng doanh nghiệp Trong thông tƣ 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đối với khách hàng, tại khoản 1 điều 2: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đ tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc c hoàn trả cả gốc và lãi”. Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế đƣợc thành lập theo quy chế của pháp luật, nhằm thực hiện mục tiêu sản xuất, kinh doanh, hoặc cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế - xã hội.
Theo quy định tại khoản 7 điều 4 của Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2014: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế c tên riêng, c tài sản, c trụ sở giao dịch ổn định, được đăng k thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” Nhƣ vậy, cho vay doanh nghiệp là một hình thức cho vay của ngân hàng thƣơng mại mà đối tƣợng vay vốn là doanh nghiệp. Cho vay khách hàng doanh nghiệp là loại cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Điều này không chỉ đúng với các nƣớc đang phát triển mà còn đúng với cả những nƣớc có thị trƣờng tài chính phát triển. Cho vay doanh nghiệp chiếm khoảng 80% hoạt động cho vay của các ngân hàng.Đặc điểm Cho vay doanh nghiệp của NHTM có một số đặc điểm sau: 7 Đối tƣợng khách hàng đa dạng vì các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Do đó nhu cầu vay vốn để đáp ứng cũng đa dạng và phong phú. Mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp là để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất nhƣ vay vốn để mua nguyên liệu phục vụ sản xuất, mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xƣởng, đổi mới thiết bị và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh với các khoản vay có giá trị lớn và có thể rất lớn. Thủ tục và quy trình cho vay doanh nghiệp phức tạp hơn vì tính pháp lý của doanh nghiệp phức tạp hơn nhiều so với cá nhân. Bên cạnh đó giá trị khoản vay lớn và tài sản đảm bảo thƣờng phức tạp, khó định giá hơn vì hầu hết tài sản doanh nghiệp thƣờng thế chấp chính nhà máy, dụng cụ sản xuất.
Kinh tế vĩ mô có ảnh hƣởng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế vì vậy hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp cũng chịu sự tác động mạnh mẽ từ nhân tố này. Rủi ro xảy ra từ cho vay doanh nghiệp thƣờng gây ra tổn thất lớn cho ngân hàng thƣơng mại. Do đó, các lãnh đạo NHTM rất quan tâm đến quản trị rủi ro các khoản cho vay doanh nghiệp. So với cho vay khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh, khách hàng doanh nghiệp có hệ thống thông tin tốt hơn, chặt chẽ hơn do đều có hệ thống thông tin kế toán, báo cáo tài chính.
Các thông tin tài chính đƣợc khách hàng cung cấp từ các báo cáo tài chính, báo cáo thuế. Tùy thuộc vào báo cáo tài chính có đƣợc kiểm toán hay không, uy tín tổ chức kiểm toán mà chất lƣợng thông tin tài chính khách hàng cung cấp cao hay thấp. Hầu nhƣ doanh nghiệp nào cũng phải sử dụng các dịch vụ ngân hàng, vì vậy hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp gắn liền với việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng đi kèm khác (tài khoản, thanh toán, ngân 8 quỹ…). Điều này vừa có lợi cho ngân hàng về mặt kinh doanh dịch vụ, vừa giúp ngân hàng kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp trong quá trình vay vốn.
Về phía doanh nghiệp cũng có lợi khi đƣợc sử dụng các dịch vụ ngân hàng trọn gói. Căn cứ vào thời hạn cho vay Căn cứ vào thời hạn vay, ngƣời ta chia làm 03 loại: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn. Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay có thời hạn cho vay đến một năm, đƣợc sử dụng nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn nhƣ bổ sung ngân quỹ, đảm bảo yêu cầu thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lƣu động. Đặc điểm của loại hình này là có mức độ rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh giảm đƣợc các rủi ro về lãi suất, về lạm phát cũng nhƣ sự bất ổn của môi trƣờng kinh tế vĩ mô.
Do đó, loại cho vay này thƣờng có lãi suất thấp hơn so với các loại cấp tín dụng khác. Cho vay trung hạn và dài hạn: Loại cho vay có thời hạn cho vay hơn một năm, chủ yếu sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng thiết bị sản xuất kinh doanh, xây dựng dự án kinh doanh, mua phƣơng tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng xí nghiệp mới. Vì thời hạn dài và hiệu quả đầu tƣ thƣờng là dự tính nên loại cho vay này thƣờng chứa đựng mức rủi ro cao, kể cả rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống. Do có mức rủi ro cao nhƣ vậy nên nó có mức lãi suất cao hơn so với phƣơng thức cho vay ngắn hạn.
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng cho vay Cho vay có tài sản đảm bảo: là loại cho vay mà các khoản cho vay phát ra đều có tài sản tƣơng đƣơng thế chấp, có các hình thức nhƣ cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh. 9 Cho vay không có tài sản đảm bảo: là khoản cho vay mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp, mà chỉ dựa vào tín chấp. Loại hình này thƣờng đƣợc áp dụng đối với khách hàng truyển thống, có quan hệ lâu dài và sòng phẳng với ngân hàng, khách hàng này phải có tài chính lành mạnh và có uy tín đối với ngân hàng nhƣ trả nợ đầy đủ đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ…. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: đây là cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn của các đối tƣợng sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ hoặc doanh nghiệp.
Cho vay tiêu dùng: là hình thức cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của dân cƣ (có hai loại: một là cho vay tiêu dùng trực tiếp là việc ngân hàng cho vay trực tiếp khách hàng để tiêu dùng; hai là cho vay tiêu dùng gián tiếp là việc ngân hàng mua các phiếu mua bán hàng từ ngƣời bán lẻ hàng hóa, tức là hình thức tài trợ bán trả góp của NHTM ). Căn cứ phƣơng thức cho vay Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng tiến hành thực hiện những thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng cho vay. Phƣơng thức này áp dụng với những khách hàng có nhu cầu vay vốn không thƣờng xuyên, sản xuất không ổn định, kinh doanh theo thời vụ, thƣơng vụ. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là số dƣ nợ cho vay cao nhất mà ngân hàng cam kết sẽ thực hiện cho một khách hàng, có hiệu lực trong một thời gian nhất định.
Hạn mức tín dụng đƣợc xác định trên cơ sở nhu cầu vay vốn của khách hàng và khả năng đáp ứng của ngân hàng. Khi đã đƣợc ngân hàng ấn định hạn mức tín dụng thì khách hàng đƣợc quyền vay vốn với số dự trong phạm vi của hạn mức tín dụng đó. Cho vay theo dự án đầu tƣ: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện đầu tƣ phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tƣ 10 phục vụ đời sống. Cho vay hợp vốn: Là loại hình cho vay, trong đó một nhóm ngân hàng thƣơng mại cùng tham gia tài trợ chung một dự án vay.
Trong đó một ngân hàng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp các ngân hàng còn lại để cùng cho vay. Loại hình này áp dụng trong trƣờng hợp dự án có quy mô vốn lớn, vƣợt quá khả năng tài trợ của một ngân hàng hoặc vƣợt quá qui định giới hạn của luật pháp. Nó cũng đƣợc sử dụng với mục tiêu phân tán rủi ro của ngân hàng. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng đƣợc sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng.
Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng. Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vƣợt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Bảo lãnh ngân hàng: Là hình thức cho vay đƣợc thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn bản của ngân hàng với bên thụ hƣởng bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của mình, khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên thụ 11 hƣởng bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả lại cho ngân hàng số tiền đã đƣợc trả thay. Các phƣơng thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với quy định tại Quy chế cho vay và điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay.