phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu đƣợc trình bày gồm 03 chƣơng: 7 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại NHTM Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex (PGBank) Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex. Tổn qu n tìn ìn n ên ứu Kiểm soát rủi ro tín dụng nói chung và trong cho vay nói riêng luôn là vấn đề cấp thiết hàng đầu đối với hoạt động tài chính ngân hàng. Trong bối cảnh hiện nay, khi mà nền kinh tế đất nƣớc đang trên đà hội nhập thế giới, yêu cầu tính chuyên nghiệp, an toàn, bền vững phải đƣợc đặt lên hàng đầu, thì hàng lọat các NHTM lại vi phạm nguyên tắc kiểm soát rủi ro tín dụng, làm hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM những năm qua của nƣớc ta sa sút nghiêm trọng. Chính bởi lẽ đó, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu dày công cũng nhƣ những bài phân tích sắc sảo của nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này.
Tuy nhiên, mỗi một sản phẩm nghiên cứu đều có điểm mạnh và điểm thiếu sót riêng. Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều chỉ mang tính cục bộ, chỉ nghiên cứu, phân tích trong phạm vi nghiên cứu của từng chi nhánh Ngân hàng riêng biệt nhƣ: NHTMCP Công thƣơng chi nhánh (CN) Ngũ Hành Sơn, NH NN và PTNT KCN Phú Tài, tỉnh Bình Định, NH TMCP Ngoại thƣơng CN Quy Nhơn…, với doanh nghiệp địa bàn và trong khoảng thời gian nhất định. Điều đáng lƣu ý, khái niệm về “rủi ro” đôi lúc còn chƣa thống nhất. Ví dụ, Nguyễn Thị Liên Hƣơng (2015) đã khẳng định: “Rủi ro là sự bất trắc không mong đợi, gây ra thiệt hại và có thể đo lƣờng đƣợc”, đây là quan niệm đã cũ, khác với quan niệm hiện nay.
Bên cạnh đó, đôi khi tác giả còn chƣa phân biệt rõ ràng biện pháp kiểm soát rủi ro với biện pháp tài trợ rủi ro. 8 Trong các đề tài nghiên cứu sâu về từng khâu của quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay, có tác giả đã vội vàng phân tích chủ điểm chính mà quên đi những khía cạnh phụ nhƣng không kém phần quan trọng khác. Trong đó, Đào Thị Bích Phƣợng (2015), đi sâu vào quy trình kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay, mà bỏ qua phần tìm hiểu khái quát về quản trị rủi ro tín dụng, từ đó chƣa hiểu đƣợc mục đích, cách thức của nghiệp vụ quan trọng này, cũng nhƣ không có cái nhìn bao quát về mối quan hệ và tầm quan trọng của kiểm soát rủi ro tín dụng đối với quản trị rủi ro tín dụng. Một điểm chung nữa rất dễ nhận ra ở các đề tài nghiên cứu là chƣa nhấn mạnh đƣợc chức năng nhiệm vụ của quản trị rủi ro, bởi lẽ đó, nội dung viết chƣa đầy đủ, chủ yếu tập trung vào các biện pháp phòng ngừa ở khâu thẩm định và giám sát trong quy trình cho vay, rất ít đề cập đến các biện pháp tài chính phái sinh và các nghiệp vụ kiểm soát rủi ro tín dụng khác.
Chẳng hạn, Trần Thị Hà Thanh (2015), hay Vũ Ngọc Thảo Linh ( 2014) đã giúp ngƣời đọc hiểu tổng quát về mục đích, nguyên tắc, các bƣớc thực hiện đầy đủ cả 04 khâu của quy trình quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay, tuy nhiên đây là đề tài có phạm vi viết rất rộng nên sự nghiên cứu của các tác giả có phần dàn trải, không chuyên sâu về một khâu cố định nào, không mang tính ứng dụng thực tế cao đối với các nhà quản trị ngân hàng. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều bài viết sâu sắc đã đƣa ra đƣợc nhiều giải pháp cho công tác kiểm soát rủi ro tín dụng nƣớc ta hiện nay. Giống nhƣ Lê Vân Chi, Hoàng Trung Lai (2014) khi bàn về các nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro tín dụng của các NHTM đã sử dụng phƣơng pháp ƣớc lƣợng hồi quy để đƣa ra kết luận về sự ảnh hƣởng của các nhân tố đến rủi ro tín dụng nhƣ sau: tỷ lệ nợ xấu có mối quan hệ dƣơng với tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, dƣ nợ tín dụng bất động sản, lãi suất cho vay danh nghĩa và GDP; tuy nhiên lại có mối quan hệ âm với giá trị tổng tài sản và tỷ lệ tài sản sinh lời trên tổng tài sản. Từ 9 đó nêu đề xuất nên sáp nhập các ngân hàng có giá trị tài sản nhỏ và hiệu quả kinh doanh yếu kém.
Bài viết của tác giả đã gợi mở hƣớng mới cho kiểm soát rủi ro tín dụng. Hay Lê Thanh Tâm (2013) đã có một bài viết rất sắc sảo nhằm phá vỡ vòng luẩn quẩn trong hoạt động tín dụng tại Việt Nam, bàn về thực trạng đánh đổi giữa tỷ lệ sinh lời cao với rủi ro cao, dƣ nợ tăng trƣởng quá mức nhanh chóng với tỷ lệ nợ xấu bùng nổ ngay sau thời kỳ mở rộng cho vay, tiếp đến là giai đoạn: thu hẹp quy mô, suy giảm tín dụng do lo sợ nợ xấu, dẫn đến tăng trƣởng tín dụng âm. Sau khi phân tích các nguyên nhân cụ thể, tác giả đã đƣa ra những giải pháp cấp thiếp cho thực tiễn để giải quyết “vòng luẩn quẩn” này. Tuy bài viết từ năm 2013 song đến nay dƣờng nhƣ vẫn còn nguyên giá trị.
Ngoài ra, trên thoibaonganhang.vn, bài viết “Tăng cường kiểm soát rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng vượt giới hạn” ngày 26/08/2016 cũng đƣa ra rất nhiều giải pháp nhằm phòng ngừa rủi ro đối với hoạt động cấp tín dụng đành cho khách hàng có dƣ nợ lớn. Hay nhƣ bài viết “Kiểm soát rủi ro tín dụng theo Basel II tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” ngày 15/01/2017 đã phân tích đƣợc bƣớc đầu thực hiện chuẩn mực quản trị rủi ro theo Hiệp ƣớc quốc tế Basel II trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam, từ đó cũng nêu ra các hạn chế trong quá trình thực hiện và nguyên nhân của nó. Kế thừa những cơ sở lý luận đúng đắn về cho vay doanh nghiệp, quản trị rủi ro và kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của những luận văn đi trƣớc, tổng hợp và học hỏi các bài báo có liên quan, đồng thời bổ sung, hoàn thiện những thiếu sót gồm: quan niệm chính xác về rủi ro, mục đích của quản trị rủi ro, cũng nhƣ mục đích, cách thức lựa chọn phƣơng pháp kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp, làm rõ các tiêu chí đánh giá nhằm đƣa ra các khuyến nghị phù hợp trong bối cảnh PGBank là một trong những 10 NHTM có tình hình hoạt động kinh doanh không hiệu quả và nằm trong danh sách các NHTM bị Ngân hàng Nhà nƣớc (NHNN) yêu cầu thanh tra, kiểm tra, sáp nhập, chuyển nhƣợng, tác giả xin trình bày luận văn: “HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP XĂNG DẦU PETROLIMEX (PGBANK)”. 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI NHTM 1.
HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NHTM 1. K á n ệm ov y o n n ệp Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế đƣợc thành lập để thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Cho vay là quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể (NHTM và ngƣời vay), trong đó một bên (NHTM) chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia (ngƣời vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn (gốc và lãi) cho bên vay vô điều kiện theo thời hạn đã thỏa thuận. Đặ đ ểm ov y o n n ệp Cho vay doanh nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau: - Đa dạng về hình thức, chiếm tỉ trọng lớn trong nghiệp vụ cho vay của NHTM.
- Có tính chất phức tạp hơn cho vay cá nhân cả về thời hạn lẫn dƣ nợ món vay. - Quy trình thẩm định cho vay cũng nhƣ kiểm tra giám sát trong quá trình giải ngân phức tạp, yêu cầu trình độ nghiệp vụ và kinh nghiệm cũng nhƣ chi phí cao. - Tài sản đảm bảo của doanh nghiệp thông thƣờng là chính sản phẩm hàng hóa, công cụ sản xuất nên rất khó quản lý và định giá. - Cho vay doanh nhiệp thƣờng có dƣ nợ lớn, sinh lời cao nên rủi ro đi kèm cũng rất cao.
P ân loạ ov y o n n ệp Có rất nhiều cách phân loại cho vay doanh nghiệp. Phân theo thời hạn cho vay, có thể chia thành: cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn đến một năm, cho vay trung hạn là loại cho vay có thời hạn từ trên một năm đến 5 năm, và cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Nếu phân theo mục đích sử dụng vốn vay thì cho vay doanh nghiệp gồm: cho vay bất động sản, cho vay kinh doanh chứng khoán, cho vay nông nghiệp, cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu… Cũng có thể chia theo hình thức đảm bảo tiền vay gồm: cho vay có đảm bảo bằng tài sản và cho vay không có đảm bảo bằng tài sản. Còn chia theo phƣơng thức cho vay thì cho vay doanh nghiệp có các loại chính sau: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay đồng tài trợ, cho vay dự án….
RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP 1. Rủi ro Rủi ro là sự bất định, hay còn gọi là sự không chắc chắn của sự việc so với dự tính ban đầu của chủ thể. Đối với hoạt động NHTM có rất nhiều rủi ro có thể xảy ra, ví dụ: khách hàng trả nợ trƣớc hoặc sau so với ngày trả nợ đã cam kết trong hợp đồng; khách hàng rút tiền gửi tiết kiếm trƣớc hoặc sau ngày đáo hạn, làm sai lệch lãi chi dự tính ban đầu… Nhƣ vậy, rủi ro không đồng nghĩa với thiệt hại, rủi ro là sự không chắc chắn, nếu xảy ra nó có thể đem lại lợi nhuận nhƣng cũng có thể gây ra thiệt hại to lớn cho ngân hàng. Tuy nhiên, thông thƣờng ngƣời ta thƣờng chú trọng nghiên cứu về những bất định sẽ gây thiệt hại cho ngân hàng, để từ đó đƣa ra các biện pháp phòng tránh và xử lý khi thiệt hại thực sự xảy ra.
13 Hoạt động ngân hàng luôn luôn tiềm ẩn vô vàn rủi ro, nó liên quan trực tiếp đến hai yếu tố cơ bản nhất, không thể tách rời nhau, đó là: gia tăng lợi nhuận và chấp nhận rủi ro.