CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp Khái niệm về RRTD là một khái niệm rộng và có nhiều cách hiểu. Theo hai nhà kinh tế A.Lange:“RRTD là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời gian” (Ngô Thị Thùy Giang, 2018).Fitch: “RRTD là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ.
Cùng với rủi ro lãi suất, RRTD là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng” (Hồ Diệu, 2002). Theo Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của NHNN: “RRTD là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” (NHNN, 2013). Theo Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 40/2018/TT-NHNN của NHNN: “RRTD là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trừ các rủi ro đối tác. Trong đó, khách hàng (bao gồm cả TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) có quan hệ với NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong việc nhận cấp tín dụng (bao gồm 8 cả nhận cấp tín dụng thông qua ủy thác), nhận tiền gửi, phát hành trái phiếu doanh nghiệp”(NHNN, 2018).
Như vậy, dù cách thể hiện khác nhau, nhưng các khái niệm về RRTD đưa ra đều hội tụ chung ở một điểm là RRTD gắn liền với hoạt động tín dụng và là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng do khách hàng vay không trả được nợ (gốc và lãi) hoặc không trả nợ đúng hạn cho ngân hàng theo cam kết tại hợp đồng. Từ khái niệm về RRTD, có thể hiểu RRTD trong cho vay doanh nghiệp là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng nhưng không thực hiện trả nợ (gốc và lãi) đúng hạn hoặc không có khả năng thực hiện đúng hạn một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của mình theo cam kết tại hợp đồng ký với ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp 1. Phân loại theo nguyên nhân phát sinh rủi ro Rủi ro giao dịch Rủi ro giao dịch là RRTD phát sinh trong quá trình giao dịch, đánh giá doanh nghiệp, thẩm định và phê duyệt cho vay.
Rủi ro giao dịch bao gồm: Thứ nhất, rủi ro lựa chọn: Trong quá trình đánh giá doanh nghiệp, phân tích phương án vay vốn và khả năng trả nợ của khách hàng, do thiếu thông tin hoặc thông tin chưa đúng, chưa phản ánh được bản chất doanh nghiệp, phương án vay vốn cũng như tình hình thị trường liên quan đến lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, ngân hàng có thể có các lựa chọn sai lầm trong quyết định cho vay. Thứ hai, rủi ro bảo đảm: Đây là loại rủi ro phát sinh từ chính các tiêu chuẩn để hạn chế rủi ro trong cho vay doanh nghiệp của ngân hàng như mức cho vay, kỳ hạn trả nợ, loại tài sản bảo đảm, chủ thể đảm bảo… Thứ ba, rủi ro nghiệp vụ: Đây là loại rủi ro liên quan đến yếu tố con người, đạo đức nghề nghiệp dẫn đến tổn thất về tài chính, tác động tiêu cực phi tài chính đối với NHTM. Trong hoạt động cho vay doanh nghiệp, rủi ro nghiệp 9 vụ liên quan trực tiếp đến công tác thẩm định, giải ngân, quản lý khoản vay, xếp hạng rủi ro và xử lý rủi ro. Điển hình là việc cán bộ tín dụng lơ là trong phân tích phương án sản xuất kinh doanh, không thực hiện kiểm tra giám sát sau giải ngân, kiểm tra giám sát định kỳ qua loa dẫn đến không phát hiện khi không còn TSĐB hoặc khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không phù hợp với phương án kinh doanh đã gửi ngân hàng.
Rủi ro danh mục Rủi ro danh mục là RRTD phát sinh trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Rủi ro danh mục bao gồm: Thứ nhất, rủi ro tập trung: Đây là loại rủi ro do NHTM có hoạt động tín dụng tập trung vào một khách hàng (bao gồm người có liên quan), sản phẩm, giao dịch, ngành, lĩnh vực kinh tế, loại tiền tệ ở mức độ có tác động đáng kể đến thu nhập, trạng thái rủi ro theo quy định nội bộ của NHTM. Thứ hai, rủi ro nội tại: Đây là loại rủi ro và xuất phát từ chính đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh, ngành kinh tế, loại tiền tệ vay vốn của doanh nghiệp. Đối với các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau sẽ tồn tại các rủi ro khác nhau.
Chẳng hạn, khi cho vay doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu, khác với hoat động tín dụng thông thường, hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu chịu tác động của nhiều yếu tố ngẫu nhiên, bất ngờ khó nắm bắt như: tình hình kinh tế, chính trị, dịch bệnh trên thế thới ảnh hưởng đến các quan hệ kinh tế đối ngoại, các yếu tố về tỷ giá, thời vụ… tác động trực tiếp hoạt động của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng. Phân loại theo khả năng trả nợ của doanh nghiệp Thứ nhất, rủi ro doanh nghiệp trả nợ không đúng hạn: Đây là loại rủi ro phát sinh do doanh nghiệp không trả nợ (gốc, lãi) theo đúng thời hạn thỏa thuận tại hợp đồng đã ký với NHTM. Tuy nhiên, trong trường hợp này, doanh nghiệp vay vốn vẫn có khả năng hoàn thành việc trả nợ ngân hàng và ngân hàng chưa phải áp dụng biện pháp thanh lý TSĐB. 10 Thứ hai, rủi ro doanh nghiệp không trả được nợ: Đây là loại rủi ro phát sinh khi doanh nghiệp vay vốn mất khả năng chi trả và hoàn toàn không có khả năng trả nợ một phần hoặc toàn bộ khoản vay.
Trong trường hợp này, ngân hàng phải tiến hành thanh lý TSĐB của doanh nghiệp để thu nợ. Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Quản trị RRTD là tiến trình của nhà quản trị bao gồm nhận dạng, đánh giá, mức độ rủi ro tiềm ẩn mà ngân hàng phải đối mặt, đồng thời lựa chọn và thực thi những biện pháp/công cụ thích hợp nhằm đối phó với rủi ro trọng hoạt động tín dụng của NHTM (Đinh Xuân Hạng, Nguyễn Văn Lộc, 2012). RRTD là điều khó tránh khỏi trong hoạt động ngân hàng, do đó, mục tiêu của quản trị RRTD là hạn chế hoặc giảm thiểu RRTD, tối đa hóa giá trị mà ngân hàng kỳ vọng đạt được thay vì triẹ̆t tiêu hoàn toàn rủi ro. Nội dung của quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp bao gồm nhận dạng rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro (Đinh Xuân Hạng, Nguyễn Văn Lộc, 2012) Nhận Đo lường Kiểm soát Tài trợ dạng rủi rủi ro rủi ro rủi ro ro Sơ đồ 1.1: Quy trình quản trị RRTD trong cho vay doanh nghiệp Nhận dạng rủi ro: NHTM thường nhận dạng RRTD trong cho vay doanh nghiệp các dấu hiệu về tài chính như nhóm chỉ tiêu thanh khoản, chỉ tiêu sinh lời, chỉ tiêu hoạt động; các dấu hiệu phi tài chính, các dấu hiẹ̆u về vấn đề kỹ thuặt và thŭŏng mại, các vấn đề về xử lý thông tin phi tài chính và một số dấu hiệu khác như: sự xuống cấp của đŏn vị kinh doanh; hàng tồn kho tăng do không bán được, hư hỏng, lạc hặu; có sự kỷ luặt với cán bọ̆ 11 chủ chốt.
Đo lûờng rủi ro: Để đo lường RRTD, các ngân hàng thường sử dụng mô hình định tính như mô hình 6C (phân tích tín dụng kết hợp với kiểm tra tín dụng) và mô hình định lượng lượng hóa rủi ro tín dụng như mô hình điểm số Z; mô hình xếp hạng tín dụng của Moody và Standard & Poor; mô hình dựa trên mức tổn thất ước tính được (Expected loss). Trong đó, mô hình điểm số Z là mô hình được sử dụng phổ biến. Kiểm soát rủi ro tín dụng: Kiểm soát RRTD là những kỹ thuật, những công cụ, những chiến lược và những quá trình nhằm biến đổi rủi ro của một tổ chức thông qua việc né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu bằng cách kiếm soát tần suất và mức độ của rủi ro và tổn thất. Tài trợ rủi ro tín dụng: Tài trợ RRTD là việc ngân hàng dùng các nguồn tài chính trong và ngoài ngân hàng bù đắp tổn thất các khoản vay khi xảy ra rủi ro.
Nợ rủi ro sau khi được xử lý sẽ được thu hồi hoặc được chuyển qua theo dõi ngoại bảng. Các nguồn tài trợ RRTD của NHTM bao gồm: nguồn từ ngân hàng như quỹ RPRR đã trích, trích thẳng trực tiếp vào chi phí hoặc lợi nhuận ngân hàng; nguồn từ bên ngoài ngân hàng như thu hồi nợ xấu, xử lý TSĐB nợ vay, thanh lý doanh nghiệp, bán nợ, nguồn đề bù của nhà kinh doanh rủi ro, bảo hiểm để bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra. Tổng quan về kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp Kiểm soát rủi ro trong cho vay doanh nghiệp là việc NHTM sử dụng các kỹ thuật, công cụ, chiến lược và các quá trình nhằm biến đổi RRTD trong cho vay doanh nghiệp thông qua việc né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu, chuyển giao, phân tán và chấp nhận rủi ro để kiểm soát tần suất và mức độ của rủi ro (Đinh Xuân Hạng, Nguyễn Văn Lộc, 2012).
Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ với những rủi ro luôn 12 tiềm ẩn, trong đó, RRTD mang tính tất yếu sẽ xảy ra, do vậy, ngân hàng luôn luôn phải có động thái nhằm hạn chế RRTD, trong tư thế chủ động trước khi có những hiện tượng tiêu cực xảy ra. Kiểm soát RRTD trong cho vay doanh nghiệp là hoạt động chủ động được thực hiện trước khi rủi ro xảy ra và là một bước quan trọng trong quy trình quản trị RRTD của NHTM.