Chương 1: Căn cứ xây dựng đề án Chương 2: Nội dung đề án Chương 3: Kiến nghị 5 CHƢƠNG 1: CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Rủi ro tín dụng trong kinh doanh ngân hàng Theo quan niệm của Ủy ban Basel (2000) thì “Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận”. Tại Điều 3, Thông tư số 02/2018/TT-NHNN ngày 21/1/2018 của NHNN nêu rõ: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động NH là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện, hoặc không có khả năng thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Như vậy, đứng trên nhiều góc độ khác nhau để nhìn nhận thì rủi ro tín dụng có thể được diễn đạt dưới các hình thức khác nhau. Vì vậy, để thống nhất quan điểm về rủi to tín dụng xuyên suốt trong toàn bộ nội dung luận văn, khái niệm này có thể hiểu như sau: Rủi ro tín dụng là những khoản tổn thất phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng dựa vào nguyên nhân phát sinh rủi ro (Nguồn: Commercial Banking-The Management of Risk, Gup, 2007) 6 Có nhiều cách phân loại và tiếp cận rủi ro tín dụng khác nhau, sau đây là một số cách phân loại phổ biến: - Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro (Gup, 2007), rủi ro tín dụng được chia thành hai nhóm là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục tín dụng như sơ đồ 1. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng rất đa dạng, có thể là nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan, đến từ phía ngân hàng hoặc khách hàng (Trần Huy Hoàng,2011), cụ thể như sau: - Các nguyên nhân khách quan: Nhóm nhân tố có tác động ngoài ý chí của khách hàng và ngân hàng như: môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội… + Mội trường kinh tế: Môi trường kinh tế là một hệ thống bao gồm nhiều hoạt động kinh tế có mối quan hệ mật thiết, ràng buộc lẫn nhau.
+ Môi trường pháp lý: Một nền kinh tế bao gồm nhiều thành phần kinh tế khác nhau, đa ngành, đa nghề nhưng tất cả các ngành nghề đó luôn phải hoạt động trong một môi trường pháp lý nhất định. + Môi trường tự nhiên: Sự biến đổi liên tục của khí hậu, thời tiết dẫn đến thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh khiến khách hàng lâm vào tình trạng khó khăn về mặt tài chính không thể khắc phục được, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng dẫn đến rủi ro tín dụng. - Các nguyên nhân chủ quan: + Nguyên nhân từ phía khách hàng: Việc quản lý yếu kém, năng lực tự chủ tài chính kém, đầu tư nhiều lĩnh vực không có khả năng quản lý, phương án kinh doanh không có tính khả thi cao hoặc sử dụng vốn vay không đúng mục đích ban đầu hay sự mất cân bằng trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp khiến doanh nghiệp rơi vào tình thế nguy hiểm. Người đi vay không có thiện chí trong việc trả nợ vay.
Nếu như khách hàng không tuân thủ các điều kiện, điều khoản cho vay hay cố tình lạm dụng vốn vay của ngân hàng thì ngân hàng cũng khó kiểm soát được hết. 7 + Nguyên nhân từ phía Ngân hàng: Thứ nhất, nguyên nhân từ phía lực lượng cán bộ, công nhân viên trong ngân hàng từ Ban lãnh đạo đến nhân viên. Mà cụ thể ở đây là yếu tố chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác cũng như đạo đức nghề nghiệp. Cán bộ tín dụng không tuân thủ chặt chẽ các quy trình, quy định của ngân hàng sẽ làm phát sinh rủi ro tín dụng.
Thứ hai, nguyên nhân từ việc trao đổi thông tin giữa khách hàng và ngân hàng. Thông tin phải là thông tin hai chiều xuất phát từ ngân hàng và khách hàng, và phải là thông tin chính xác, kịp thời đầy đủ. Thứ ba, nguyên nhân đến từ quy trình và chính sách cấp tín dụng chưa chặt chẽ. Quy trình và chính sách cấp tín dụng là cơ sở quan trọng trong quá trình thẩm định cho vay, giúp ra quyết định cấp tín dụng và định hướng danh mục cấp tín dụng đáp ứng các tiêu chuẩn pháp lý và đảm bảo an toàn.
Thứ tư, khả năng sự báo, phân tích, xét duyệt cho vay cũng như việc theo dõi để kịp thời phát hiện và xử lý các khoản nợ có vấn đề của nhân viên ngân hàng còn yếu kém. Đặc biệt một số ngành nghề phức tạp đòi hỏi có sự am hiểu, kiến thức chuyên môn cao mà nhân viên ngân hàng không có đủ chuyên môn và kiến thức sẽ dẫn đến những quyết định tín dụng sai lầm. Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng Nợ quá hạn Nợ quá hạn là chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng cũng như phản ánh rủi ro tín dụng tại ngân hàng. Nợ quá hạn sẽ phát sinh khi đến thời hạn trả nợ theo cam kết, người vay không có khả năng trả được nợ một phần hay toàn bộ khoản vay cho người cho vay.
Nợ quá hạn được phản ánh qua 2 chỉ tiêu sau: Tỉ lệ nợ quá hạn = Số dư nợ quá hạn /Tổng dư nợ Tỉ lệ khách hàng có nợ quá hạn trên tổng khách hàng có dư nợ = Số khách hàng có nợ quá hạn /Tổng số khách hàng có dư nợ 8 Nếu ngân hàng có chỉ tiêu nợ quá hạn và số khách hàng có nợ quá hạn lớn thì ngân hàng đó đang có mức rủi ro cao và ngược lại. Nợ xấu Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 10 Thông tư số 02/2018/TT-NHNN ngày 21/01/2018. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu an toàn theo thông lệ quốc tế là 3%.
Nợ xấu được phản ánh rõ nhất qua các chỉ số: Tỉ lệ nợ xấu = Nợ xấu/ Tổng dư nợ, Tỉ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu = Nợ xấu/Vốn chủ sở hữu, Tỉ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất = Nợ xấu/Quỹ dự phòng tổn thất Dự phòng rủi ro tín dụng Dự phòng rủi ro đánh giá khả năng chi trả của ngân hàng khi rủi ro xảy ra. Mục đích của việc sử dụng dự phòng rủi ro của một ngân hàng là nhằm để bù đắp tổn thất đối với những khoản nợ của ngân hàng xảy ra trong trường hợp khách hàng không có khả năng chi trả do giải thể, phá sản, chết, mất tích, hoặc khi khoản nợ được xếp vào nhóm 5. Dự phòng tín dụng được tính trên số dư nợ gốc của khách hàng bao gồm: (i) dự phòng cụ thể - để bảo hiểm rủi ro cụ thể cho từng khoản vay, và (ii) dự phòng chung - bảo hiểm các rủi ro chung không xác định trong danh mục tín dụng. Các chỉ số thể hiện dự phòng rủi ro tín dụng: Tỉ lệ dự phòng RRTD = Dự phòng RRTD được trích lập /Tổng dư nợ cho kỳ báo cáo Hệ số khả năng bù đắp các khoản cho vay bị mất = Dự phòng RRTD được trích lập /Dư nợ bị xóa Hệ số bù đắp rủi ro tín dụng = Dự phòng RRTD được trích lập/Nợ quá hạn khó đòi Quy mô tín dụng Quy mô tín dụng không phải là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp rủi ro tín dụng nhưng nếu quy mô tín dụng tăng quá nóng, không tương ứng với khả năng kiểm 9 soát của ngân hàng thì lúc đó, quy mô tín dụng sẽ phản ánh rủi ro tín dụng.
Quy mô tín dụng thể hiện rõ qua các chỉ tiêu: Dư nợ trên tổng tài sản = Tổng dư nợ/Tổng tài sản Dự nợ bình quân trên số lượng cán bộ tín dụng = Tổng dư nơ/Tổng số cán bộ tín dụng bình quân Số lượng khách hàng trên số lượng cán bộ tín dụng = Tổng số khách hàng/Tổng số cán bộ tín dụng bình quân Tốc độ tăng trưởng dư nợ = (Dư nợ năm nay - Dư nợ năm trước)/Dư nợ năm trước Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng so với tốc độ tăng trưởng kinh tế = Tốc độ tăng trưởng tín dụng/Tốc độ tăng trưởng kinh tế Các chỉ tiêu này dùng để để đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng. Tuy nhiên, nếu ngân hàng mở rộng quy mô tín dụng theo hướng nới lỏng tín dụng cho các khách hàng sẽ dẫn đến rủi ro là khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không kiểm soát được mục đích sử dụng vốn vay… điều này sẽ gây rủi ro cho ngân hàng. Cơ cấu tín dụng Cơ cấu tín dụng phản ảnh mức độ tập trung tín dụng trong một ngành nghề, lĩnh vực, loại tiền. do đó, tuy không phản ánh trực tiếp mức độ rủi ro, nhưng nếu cơ cấu tín dụng quá thiên lệch vào những lĩnh vực mạo hiểm, sẽ phản ánh rủi ro tín dụng tiềm năng.
Cơ cấu tín dụng chia theo các nhóm sau: - Cơ cấu tín dụng theo ngành - Cơ cấu tín dụng theo loại hình - Cơ cấu tín dụng theo thời hạn cho vay - Cơ cấu tín dụng theo loại tiền tệ - Cơ cấu tín dụng theo tài sản đảm bảo Các chỉ tiêu về Quy mô tín dụng và cơ cấu tín dụng mặc dù không phản ảnh cụ thể rủi ro tín dụng của ngân hàng, tuy nhiên nếu các chỉ tiêu này có sự thay đổi 10 lớn của kỳ này so với kỳ trước hay so với trung bình của hệ thống ngân hàng thì các chỉ tiêu này là dấu hiệu phản ánh rủi ro tín dụng của ngân hàng. Ngoài các chỉ tiêu trên, một số chỉ tiêu như phân tán rủi ro, hiệu quả sử dụng vốn, sinh lời hoạt động chính trị… hay các chính sách ổn định vĩ mô cũng là hình thức đánh giá hiệu quả tín dụng phổ biến của những nhà quản lý ngân hàng.