Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất trồng lúa 1. Khái quát về đất trồng lúa Đất trồng lúa là đất có các điều kiện phù hợp để trồng lúa, bao gồm đất chuyên trồng lúa nước và đất lúa khác. Đất chuyên trồng lúa nước là đất đang trồng hoặc có đủ điều kiện trồng được hai vụ lúa nước trở lên trong năm.
Đất lúa khác bao gồm đất lúa nước chỉ trồng được một vụ lúa nước trong năm và đất lúa nương. Đất lúa nương là đất có các điều kiện phù hợp cho trồng lúa nương. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ 2001-2010 phát huy được tiềm năng đất đai Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp của nhà nước (thể hiện đựơc đồng thời ba tính chất kinh tế, kỹ thuật và pháp chế) về tổ chức sử dụng đất đai phải hợp lý, đầy đủ và tiết kiệm nhất, thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoan định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường. Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: điều chỉ các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường.
Từ đó, ta thấy việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ cho trước mắt mà cả lâu dài. Căn cứ vào đặc điểm, điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp,các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế n 5 hoạch sử dụng đất đai chi tiết của mình; Xác lập ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về đất đai; Làm cơ sở để tiến hành giao đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ nhu cầu dân sinh, văn hoá- xã hội.[10] Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất đai còn là biện pháp hữu hiệu của nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai,hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất lâm nghiệp, lâm nghiệp (đặc biệt là đất trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng), ngăn ngừa được các hiện tượng tiêu cực, chanh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất, phá vỡ môi trường sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và rất nhiều các hiện tượng gây ra các hiệu quả khó lường về tình hình bất ổn chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt là trong những năm gần đây khi nhà nước hướng nền kinh tế theo hướng thị trường. Một cơ chế vô cùng phức tạp. Hơn nữa quy hoạch sử dụng đất đai còn tạo điều kiện để sử dụng đất đai hợp lý hơn.
Trên cơ sở phân hạng đất đai, bố trí sắp xếp các loại đất đai quy hoạch sử dụng đất đai tạo ra cái khung buộc các đối tượng quản lý và sử dụng đất đai theo khung đó. Điều đó cho phép việc sử dụng đất đai sẽ hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả hơn. Bởi vì, khi các đối tượng sử dụng đất đai hiểu rõ được phạm vi ranh giới và chủ quyền về các loại đất thì họ yên tâm đầu tư khai thác phần đất đai của mình, do vậy hiệu quả sử dụng sẽ cao hơn. Quy hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa rất quan trọng cho các ngành, các lĩnh vực hoạt động trong xã hội.
Nó định hướng sử dụng đất đai cho các ngành, chỉ rõ các địa điểm để phát triển các ngành, giúp cho các ngành yên tâm trong đầu tư phát triển. Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai cũng góp một phần rất lớn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.[13] n 6 Mặc dù đất lúa nước đạt 103,55% (vượt chỉ tiêu), nhưng trong 10 năm qua đã sử dụng 270 nghìn ha chuyển cho các mục đích sử dụng khác. Việc lấy đất chuyên trồng lúa nước có năng suất cao để phát triển công nghiệp, đô thị trong khi có thể bố trí trên các loại đất khác vẫn xảy ra ở một số địa phương. Đất khu công nghiệp đạt 100%, nhưng đầu tư còn dàn trải, một số khu công nghiệp triển khai quá chậm.
Hiện trạng sử dụng đất trồng lúa tại Việt Nam Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đến năm 2010 cả nước có 267 khu công nghiệp, tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, với tổng diện tích 72 nghìn ha, tỷ lệ lấp đầy bình quân đạt gần 46%. Ngoài ra, cả nước còn 28 nghìn ha đất của 650 cụm công nghiệp, diện tích đã cho thuê hơn 10 nghìn ha, tỷ lệ lấp đầy bình quân đạt 44%. Trong đó, theo thống kê của Phòng Thương mại, Công nghiệp Việt Nam, chỉ tính riêng vùng ĐBSCL, hiện có 20 khu công nghiệp lấn vào diện dích đất trồng lúa, với tổng diện tích 3.645 ha, diện tích cho thuê đạt 810 ha (chiếm tỷ lệ khoảng 22%). Ngoài ra, các tỉnh trong vùng còn có 177 cụm công nghiệp, với tổng diện tích hơn 15.400 ha, có 15 cụm được doanh nghiệp thuê với diện tích 700 ha (chiếm 4,5%).
Như vậy, đang có tới 17 nghìn 690 ha đất công nghiệp (trong tổng số 19 nghìn 102 ha) bị bỏ trống, chiếm hơn 92% diện tích. Diện tích đất bỏ trống ở nhiều nơi đã khiến các khu vực này xảy ra những chuyện ngược đời là nông dân xin thuê lại đất quy hoạch khu công nghiệp để trồng lúa, trồng màu. Còn một bộ phận lớn nông dân khác thì buộc phải di cư lên thành phố kiếm việc làm, tăng sức ép dân số lên khu vực thành thị, đồng thời cũng gia tăng những vấn đề xã hội khác cho khu vực nông thôn.[14] Diện tích đất phi nông nghiệp trên cả nước có mức tăng trưởng tương đối nhanh và tuyến tính trong vòng một thập niên qua. Trung bình mỗi năm, diện tích đất phi nông nghiệp gia tăng thêm khoảng 82.000 ha và tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm ở mức xấp xỉ 29%.
n 7 Tổng diện tích nhóm đất chuyên dùng gia tăng mạnh nhất trong giai đoạn 2005-2010 (722.277 ha); tiếp theo là diện tích đất ở, tăng 237.300 ha; đất nghĩa trang, nghĩa địa tăng 7.200 ha; đặc biệt, nhóm đất sông suối và mặt nước chuyên dùng giảm mạnh xuống chỉ còn khoảng trên 1 triệu ha vào năm 2010. Đất tôn giáo, tín ngưỡng cũng có sự gia tăng đáng kể, tăng trên 1.800 ha sau 5 năm, từ năm 2005 đến năm 2010. Định hướng sử dụng đất tới năm 2020 Với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015), Chính phủ đề ra ba mục tiêu cơ bản đó là: Đáp ứng yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội (giao thông, thủy lợi, văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao…), công nghiệp và đô thị để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bảo đảm anh ninh, quốc phòng và an sinh xã hội; đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; bảo vệ mội trường sinh thái, phát triển bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu. Từ đó, Chính phủ đã đưa ra phương án quy hoạch sử dụng đất cụ thể.
Đất nông nghiệp của cả nước đến năm 2020 là 26.000 ha so với năm 2010. Đất phi nông nghiệp đến năm 2020, cả nước có 4.000 ha so với năm 2010. Với đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng, năm 2010, cả nước còn 3. Trong thời kỳ quy hoạch sẽ khai thác khoảng 1.000 ha sử dụng vào các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Như vậy, đến năm 2020, quỹ đất chưa sử dụng của cả nước còn lại khoảng 1.[15] Sự chuyển đổi của Việt Nam từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường và từ một đất nước rất nghèo trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình thấp trong vòng chưa đến 20 năm đã trở thành một phần trong các sách giáo khoa về phát triển. Nhưng một sự chuyển đổi khác của Việt Nam để trở thành một nền kinh tế công nghiệp, hiện đại vào năm 2020 hầu như mới chỉ bắt đầu. n 8 Để đạt được mục tiêu này, theo Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội mới nhất cho giai đoạn 2011 - 2020, Việt Nam cần phải bình ổn kinh tế vĩ mô, xây dựng cơ sở hạ tầng tiêu chuẩn thế giới, xây dựng nguồn nhân lực có trình độ, kỹ năng và tăng cường các thể chế kinh tế thị trường của mình. Đạt được những nguyện vọng này không phải là điều dễ dàng.
Việt Nam đã phải trải qua những cơn sóng gió chưa từng có trong nền kinh tế vĩ mô trong những năm gần đây lạm phát hai con số, tiền đồng mất giá, nguồn vốn tháo chạy và suy giảm dự trữ ngoại hối làm xói mòn lòng tin của nhà đầu tư. Tăng trưởng nhanh cũng làm bộc lộ những vấn đề mang tính cơ cấu. Chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng vẫn là nguyên nhân gây quan ngại nặng nề do tăng trưởng kinh tế sử dụng quá nhiều tài nguyên, ô nhiễm cao và hàng xuất khẩu thiếu đa dạng và ít có giá trị gia tăng, tỉ trọng đóng góp của năng suất vào tăng trưởng ngày càng giảm. Năng lực cạnh tranh của Việt Nam đang bị đe dọa bởi sản xuất điện không theo kịp nhu cầu, chi phí hậu cần và giá cả bất động sản leo thang, tình trạng thiếu lao động có kỹ năng ngày càng phổ biến.
Vì vậy việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng đất trồng lúa nhằm thỏa mãn nhu cầu cho xã hội về an ninh lương thực đang trở thành một trong những mối quan tâm lớn nhất của người quản lý và sử dụng đất. Sử dụng đất trồng lúa theo hướng phát triển bền vững Đất đai ngày càng thể hiện vai trò vô cùng quan trọng của nó không chỉ trong hiện tại mà cả tương lai.