MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai được sử dụng ở hầu hết trong tất cả các ngành sản xuất, các lĩnh vực của đời sống. Theo từng ngành sản xuất, từng lĩnh vực của đời sống, đất đai được phân thành các loại khác nhau và gọi tên theo ngành và lĩnh vực sử dụng chúng. Trong tiến trình của lịch sử xã hội loài người, con người và đất đai ngày càng gắn liền chặt chẽ với nhau.
Đất đai trở thành của cải vô tận của con người, con người dựa vào đó để tạo ra sản phẩm nuôi sống mình. Không có đất đai thì không có bất kỳ ngành sản xuất nào, không có một quá trình lao động nào diễn ra và cũng không có sự tồn tại của loài người. Thực tế trong những năm qua đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả như: tiến hành giao quyền sử dụng đất lâu dài ổn định cho người sử dụng đất, hoàn thiện hệ thống thủy lợi và chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Đưa các giống cây tốt có năng suất cao vào sản xuất, nhờ đó mà năng suất cây trồng, hiệu quả sử dụng đất được nâng lên.
Trong đó việc thay đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng giống mới với năng suất và chất lượng cao, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật có biểu hiện ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả sử dụng đất. Khai thác tiền năng đất đai sao cho đạt hiệu quả cao nhất là việc làm hết sức quan trọng, cần thiết và đảm bảo cho sự phát triển của sản xuất nông nghiệp cũng như sự phát triển chung của nền kinh tế cả nước. Cần phải có các công trình nghiên cứu khoa học đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, nhằm phát hiện ra các yếu tố tích cực và hạn chế, từ đó làm cơ sở để định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp, thiết lập các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Vì vậy, để giúp xã Thanh Ninh có hướng đi đúng trong phát triển nền kinh tế nông nghiệp bền vững, n 2 giúp người dân lựa chọn được phương thức sản xuất phù hợp trong điều kiên cụ thể của xã, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết.
Xuất phát từ những vấn đề quan trọng như trên và nhận thức được tầm quan trọng trong phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững được sự đồng ý và giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS. Lê Văn Thơ, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Thanh Ninh, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đi sâu vào đấ t trồ ng cây hàng năm , đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở xã Thanh Ninh.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thực trạng sử dụng đất: xác định các loại hình sử dụng đất, phân hạng các loại hình sử dụng đất. - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường. - Đề xuất các giải pháp: thị trường, vốn đầu tư, nguồn nhân lực,… và định hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Yêu cầu của đề tài - Các số liệu phải chính xác, khách quan, tin cậy.
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa thực tiễn - Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp bền vững. - Đánh giá được thực trạng sử dụng đất, xác định những tồn tại chủ yếu trong nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, nguyên nhân và giải pháp khắc phục cho xã Thanh Ninh trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Giúp cho người học tập nghiên cứu củng cố lại những kiến thức đã học, biết cách thực hiện một đề tài khoa học và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. - Nắm chắc được hiện trạng sử dụng đất, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để áp dụng vào thực tế. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Cơ sở lý luận của đề tài 2. Khái niệm đất và đất nông nghiệp Khái niệm đất Đất là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người, con người sinh ra trên mặt đất, sống và lớn lên nhờ vào những sản phẩm từ đất. Có rất nhiều khái niệm về đất, sau đây là một số khái niệm mà con người rút ra được. Theo nguồn gốc phát sinh, tác giả Đôkutraiep coi: “Đất là một vật thể tự nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp của năm yếu tố là: Khí hậu, đá mẹ, địa hình, sinh vật và thời gian.
Đất xem như một thể sống nó luôn vận động và phát triển” (Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thế Hùng, 1999) [11].Mác: “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, là điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau” (C. Theo các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng: Đất đai là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được. Như vậy đã có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về đất nhưng khái niệm chung nhất có thể hiểu như sau: đất đai là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng bao gồm: khí hậu của bầu khí quyển, lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm, khoáng sản trong lòng đất; theo chiều ngang, trên mặt đất là sự phối hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật với các thành phần khác, nó tác động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống xã hội của con người. n 5 Quá trình hình thành đất: Quá trình Quá trình Đá mẹ Mẫu chất Đất Phá hủy hình thành Hình 2.
Quá trình hình thành đất Đá mẹ dưới tác động của các yếu tố ngoại cảnh bị phá hủy tạo thành mẫu chất, mẫu chất chưa phải là đất vì còn thiếu một phần vô cùng quan trọng đó là chất hữu cơ. Trước khi có sinh vật, trái đất lúc đó chỉ bao gồm lớp vỏ toàn đá, dưới tác dụng của mưa, các sản phẩm vỡ vụn của đá bị trôi xuống nơi thấp hơn và lắng đọng ở đó hoặc ở ngoài đại dương. Sự vận động của vỏ trái đất có thể làm nổi những vùng đá trầm tích lên và lại tiếp tục chu trình như trên người ta gọi là đại tuần hoàn địa chất. Đây là quá trình tạo lập đá đơn thuần và xảy ra theo một chu trình khép kín và rộng khắp (Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thế Hùng, 1999) [11].
Khi trên trái đất xuất hiện sinh vật, sinh vật đã hút chất dinh dưỡng từ những mẫu chất do đã vỡ vụn ra để sinh sống và khi chết đi tạo lên một lượng chất hữu cơ. Cứ như vậy sinh vật càng ngày càng phát triển và lượng chất hữu cơ ngày càng nhiều, nó đã biến mẫu chất thành đất. Người ta gọi đó là tiểu tuần hoàn sinh vật. “Sự thống nhất giữa đại tuần hoàn địa chất và tiểu tuần hoàn sinh vật đã tạo ra đất và đó cũng chính là bản chất của quá trình hình thành đất” (Nguyễn Ngọc Nông, Nông Thị Thu Huyền, 2011) [12].
Khái niệm đất nông nghiệp Đất nông nghiệp là tất cả những diện tích được sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp như: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và diện tích nghiên cứu thí nghiệm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Kể cả diện tích n 6 đất lâm nghiệp và các công trình xây dựng cơ bản phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp (FAO, 1994) [9]. Phân loại đất nông nghiệp Theo Luật đất đai 2013, nhóm đất nông nghiệp được phân thành các loại đất như sau: - Đất trồng cây hàng năm: là loại đất dùng để trồng các loại cây ngắn ngày, có chu kỳ sinh trưởng không quá một năm. Đất trồng cây hàng năm bao gồm: + Đất ba vụ là loại đất trồng và có thu hoạch 3 vụ/ năm với các công thức: 3 vụ lúa, 2 lúa - 1 màu hoặc 1 lúa - 2 màu.
+ Đất hai vụ là loại đất trồng và có thu hoạch 2 vụ/ năm với công thức: 2 lúa, 1 lúa- màu hay là 2 màu. + Đất một vụ là loại đất chỉ trồng và thu hoạch có 1 lúa hoặc 1 vụ màu/ năm. - Đất trồng cây lâu năm: là loại đất bao gồm đất dùng để trồng các loại cây có chu kỳ sinh trưởng kéo dài trong nhiều năm, phải trải qua thời kỳ kiến thiết cơ bản mới đưa vào kinh doanh và trồng một lần nhưng thu hoạch trong nhiều năm. - Đất trồng rừng sản xuất: loại đất dùng để chuyên trồng các loại cây với mục đích sản xuất.
- Đất rừng phòng hộ: là diện tích đất được trồng các loại cây với mục đích phòng hộ. - Đất rừng đặc dụng: là diện tích đất được Nhà nước quy hoạch và đưa vào sử dụng với mục đích riêng. - Đất nuôi trồng thủy sản: là diện tích đất được dùng để nuôi trồng thủy sản như:, tôm, cua, cá … n 7 - Đất làm muối: là diện tích đất được dùng để phục vụ cho quá trình sản xuất muối. - Đất nông nghiệp khác bao gồm: đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh.
Cơ sở thực tiễn của đề tài 2. Vai trò và ý nghĩa của đất đai đến sản xuất nông nghiệp Đất đai đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất.