MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất là một bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường sống, không chỉ là tài nguyên thiên nhiên mà còn là nền tảng để định cư và tổ chức hoạt động kinh tế, xã hội, không chỉ là đối tượng của lao động mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong sản xuất nông - lâm nghiệp. Chính vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp là hợp thành của chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững và cân bằng sinh thái. Ngày nay, xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực và thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội.
Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó. Các hoạt động ấy đã làm cho diện tích đất nông nghiệp vốn có hạn về diện tích ngày càng bị thu hẹp, đồng thời làm giảm độ màu mỡ và giảm tính bền vững trong sử dụng đất. Ngoài ra, với quá trình đô thị hoá làm cho quỹ đất nông nghiệp ngày càng giảm, trong khi khả năng khai hoang đất mới và các loại đất khác chuyển sang đất nông nghiệp lại rất hạn chế. Do vậy, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp từ đó lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả, để sử dụng hợp lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm.
Đối với một nước có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu như ở Việt Nam, nghiên cứu, đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Xã Chi Lăng là một xã miền núi của huyện Chi Lăng, với tổng diện tích tự nhiên là 2446,65 ha, với hơn 5 nghìn dân, gồm 14 đơn vị hành chính thôn. Kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Hiện nay xã Chi Lăng đang trong giai đoạn phát triển, kinh tế có phần được cải thiện, đời sống ngày càng được chú trọng nâng cao hơn trong những h 2 năm gần đây.
Diện tích đất tự nhiên trên địa bàn xã chủ yếu là đất nông nghiệp, lâm nghiệp, hoạt động sản xuất chủ yếu của người dân là trồng lúa nước, trồng các loại cây ăn quả như cây na, hồng, vải…, chăn nuôi gia súc gia cầm. Trong những năm gần đây, nhà nước đã có chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và từng hộ người dân để quản lý đất đai và sử dụng vào hoạt động sản xuất. Tuy nhiên xã cũng đang đối mặt với một số vấn đề về việc phát triển nông nghiệp. Trong điều kiện diện tích đất nông nghiệp đang dần bị thu hẹp, sức ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và gia tăng dân số.
Và do trình độ và kinh nghiệm của người dân chỉ sản xuất nông nghiệp theo truyền thống nên việc sử dụng đất đai chưa có kế hoạch cụ thể dẫn đến hiệu quả mà các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp mang lại còn thấp, diện tích rừng rất ít, hiệu quả sản xuất và phòng hộ của rừng còn thấp.Vì vậy, việc điều tra đánh giá một cách tổng hợp các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sử dụng đất, hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất. Từ đó, định hướng cho người dân trong xã khai thác sử dụng đất đai hợp lý, bền vững là một trong những vấn đề hết sức cần thiết. Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp, tận tình của thầy giáo: ThS. Nguyễn Quý Ly, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2013- 2017”.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Lựa chọn các LUT đạt hiệu quả kinh tế - xã hội – môi trường để nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp cho xã Chi Lăng trong thời gian tới. Mục tiêu cụ thể - Xác định các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp - Lựa chọn loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao 1.
Yêu cầu của đề tài - Đánh giá được hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn xã phù hợp với điều kiện tự nhiên, KT–XH của xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. - Thu thập được đầy đủ các số liệu về điều kiện tự nhiên, KT – XH có liên quan đến đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. - Các thông tin, số liệu, tài liệu điều tra phải trung thực, chính xác, đảm bảo độ tin cậy và phản ánh đúng thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu. - Các giải pháp đề xuất phải hợp lý về mặt khoa học và có tính thực tiễn cao, phù hợp với địa phương.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Củng cố kiến thức đã được học ở trường và kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình học tập tại cơ sở. Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập xử lí thông tin của sinh viên trong quá trình làm đề tài. Trên cơ sở đánh giá hiệu quả đất đai từ đó định hướng về đề xuất những giải pháp sử dụng đất hiệu quả cao bền vững phù hợp với điều kiện địa phương.
Ý nghĩa thực tiễn - Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bền vững. - Đánh giá được thực trạng sử dụng đất, xác định những tồn tại chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp. - Nguyên nhân và giải pháp khắc phục cho xã Chi Lăng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn này. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Khái niệm về đất nông nghiệp 2. Khái niệm về đất Đất là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người, có vai trò quan trọng trong cuộc sống và phát triển kinh tế. Đất đai không chỉ là địa bàn phân bố dân cư mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp. Cho đến nay đã có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về đất đai.
Theo nguồn gốc phát sinh, tác giả Đôkutraiep coi đất là một vật thể tự nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp của năm yếu tố là: Khí hậu, đá mẹ, địa hình, sinh vật và thời gian. Đất xem như một thể sống nó luôn vận động và phát triển. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở khái niệm này thì chưa đề cập đến sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh, do đó một số học khác đã bổ sung các yếu tố: nước của đất, nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về đất nêu trên.Mác: “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến, quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, là điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau” (Các Mác, 1949) [1]. Các nhà kinh tế, quy hoạch và thổ nhưỡng Việt Nam cho rằng: Đất đai là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được.
Tuy nhiên về mặt thuật ngữ khoa học đất đai được hiểu theo nghĩa rộng như sau: Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm các cấu thành của môi trường sinh thái ngay bên trên và bên dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối.) các dạng trầm tích sát h 5 bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật, trạng thái định cư của con người trong quá khứ và hiện tại để lại. Như vậy, đất đai có rất nhiều định nghĩa, tùy thuộc vào từng lĩnh vực họ quan tâm, nghiên cứu những khái niệm chung nhất có thể hiểu: Đất đai là khoảng không gian có giới hạn. Theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu và bầu khí quyển, lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất). Theo chiều ngang, trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật với các thành phần khác ) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người.
Khái niệm đất nông nghiệp Đất nông nghiệp được định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác. Khái niệm đất sản xuất nông nghiệp Đất sản xuất nông nghiệp là đất dùng cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp như: đất trồng cây hàng năm (đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi và đất trồng cây hàng năm khác) và đất trồng cây lâu năm (đất trồng cây công nghiệp lâu năm, đất trồng cây ăn quả lâu năm, đất trồng cây lâu năm khác).Vai trò và ý nghĩa đất đai đến sản xuất nông nghiệp Đất đai là tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia, đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất. Tuy nhiên vai trò của đất đai với từng ngành là khác nhau.
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật” (Hiến pháp 2013) [5], Luật đất đai 2013 khẳng định “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất h 6 đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng” (Luật đất đai 2013) [6].