CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HIỆU QUA SỬ DỤNG DAT NÔNG NGHIỆP 1. Dat nông nghiệp và bán chat của đất nông nghiệp 1. Khái niệm và vai trò của đất nông nghiệp * Khái niệm về đất Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm, định nghĩa về đất. Khái niệm đầu tiên của học giả người Nga Docutraiep năm 1886 cho rằng: “Đất là một vật thê thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất đó là: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian”.
Tuy vậy, khái niệm này chưa dé cập đến khả năng sử dụng và sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh. Do đó sau này một số học giả khác đã bé sung các yéu tố: nước của đất, nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người dé hoàn chỉnh khái niệm về đất nêu trên. Ngoài ra, còn có một sô học giả khác cũng có những khái niệm về đât như sau: Học giả người Anh V. Wiliam đã đưa ra khái niệm “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phâm cho cây trông”.
Mitscherlich (1923) cho răng “Đất chỉ là cái giá đỡ, cái kho cung cấp chất dinh dưỡng” và “Dat là cái khối hỗn hợp gồm các phân tử nhỏ, cứng rắn, nước, không khí cần thiết cho thực vật”. Các Mác cho rằng: “Đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản và pho biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, điều kiện không thé thiêu được của sự tôn tại và tái sinh của hàng loạt thê hệ người kê tiêp nhau”. Các nhà kinh tế, thé nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rang “Dat là phan trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thé mọc được” va đất được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm các cấu thành của môi trường sinh thái ngay bên trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước (hồ, sông suối.), các dạng trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả nghiên cứu trong quá khứ và hiện tại dé lại” Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm: khí hậu, lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất. Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác có vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đôi với hoạt động sản xuât và cuộc sông của xã hội loài người.
Theo Luật Dat đai 2003 “Dat nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp (đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác), đất lâm nghiệp (đất rừng sản xuất, dat rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng), đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ". * Khái niệm đất nông nghiệp Luật Dat đai 2013 quy định, đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu dé sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuat, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp (Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2013). Trong nông nghiệp, đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động. Như vậy đất đai không chỉ là chỗ đứng, chỗ tựa của lao động mà còn cung cấp dinh dưỡng nuôi cây trồng và thông qua sự phát triển của trồng trọt tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển.
Với ý nghĩa đó, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở tự nhiên sản sinh ra của cải vật chất cho xã hội. Ở nước ta với hơn 70% dân số làm nông nghiệp nên van đề phát triển nông nghiệp là mặt trận hàng đầu tạo cơ sở vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vai trò và ý nghĩa của đất dai trong sản xuất nông nghiệp Đất đai đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất. Các Mác đã nhân mạnh “Đất là mẹ, sức lao động là cha sản sinh ra của cải vật chất”.
Luật đất đai năm 1993 cũng đã khẳng định “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở y tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng”. Trong sản xuất nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng cơ bản và đặc biệt với những đặc điêm riêng như sau: Đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất. Đất đai là đối tượng lao động bởi lẽ nó là nơi để con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi dé tạo ra sản phẩm. Bên cạnh đó, đất đai còn là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất thông qua việc con người đã biết lợi dụng một cách ý thức các đặc tính tự nhiên của đất như lý học, hoá học, sinh vật học và các tính chất khác dé tác động và giúp cây trồng tạo nên sản pham, (Cao Liêm, Tran Đức Viên ,1993).
Đất đai có vị trí cố định và có chất lượng không đồng đều giữa các vùng, miền. Mỗi vùng đất đai luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thé nhưỡng, khí hậu, nước, thảm thực vật), điều kiện kinh tế — xã hội như (dân số, lao động, giao thông, thị trường). Do vậy, muốn sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả cần xác định cơ cau cây trồng, vật nuôi cho phù hợp trên cơ sở năm chắc điều kiện của từng vùng lãnh thé (Nguyễn Viết Phố, Trần An Phong, Dương Văn Xanh, 1996). Đất dai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu không thé thay thé trong sản xuất nông nghiệp nếu biết sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai sẽ ngày càng tăng lên.
Đất đai, ngoài là tư liệu sản xuất quan trọng cơ bản trong sản xuất nông nghiệp nó còn được coi là tư liệu sản xuất đặc biệt so với các tư liệu sản xuất khác bởi vì đất đai là sản pham của tự nhiên, đất đai có trước lao động và là điều kiện tự nhiên của lao động nó chỉ là tư liệu sản xuất khi tham gia vào sản xuất khi có sự tác động của lao động. Dat dai vận động theo quy luật tự nhiên của nó - nghĩa là độ màu mỡ của đất đai phụ thuộc vào người sử dụng đất, do vậy trong quá trình sử dụng đất phải đứng trên quan điểm bồi dưỡng, bảo vệ, làm giàu cho đất thông qua những hoạt động có ý nghĩa của con người. Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt lục địa. Đặc biệt là đất đai nông nghiệp, sự giới hạn về diện tích đất còn thê hiện ở khả năng có hạn về khai hoang tăng vụ trong từng điều kiện cụ thể.
Do vậy trong quá trình sử dụng dat cần hết sức quý trọng và tiết kiệm thì mới có thé đáp ứng được nhu cau sử dụng đất đai ngày càng tăng của xã hội. Đất đai là yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp, sử dụng nó có ảnh hưởng đến kết quả đầu ra và khả năng sinh lợi. Đặc biệt trong hệ thống sản xuất hàng hoá đất được coi như chi phí đầu vào trong sản xuất nông nghiệp, chat lượng đất và các lợi thế của đất sẽ quyết định khối lượng sản phẩm sản xuất ra và khả năng sinh lợi của đất. Dat dai được coi là một loại tài sản, chủ tài sản đất có quyền nhất định do luật pháp của mỗi nước quy định.
Đây là điều kiện để chủ tài sản có thể chuyển nhượng và phát huy được hiệu quả sử dụng đất. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy răng diện tích đất tự nhiên nói chung và đất nông nghiệp nói riêng là có hạn và chúng không thé tự sinh sôi. Trong khi đó, áp lực từ sự gia tăng dân SỐ, Sự phát triển của xã hội đã và đang làm đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do chuyền đổi sang mục dich phi nông nghiệp như xây dựng cơ sử hạ tầng, các khu đô thị, khu công nghiệp. đã làm cho đất đai ngày càng khan hiếm về số lượng, giảm về mặt chất lượng và hạn chế khả năng sản xuất.
Sử dụng đất đai một cách hợp lý, có hiệu quả và bền vững là một trong những điều kiện quan trọng nhất dé phát triển nền kinh tế của mọi quốc gia. Đặc điểm đất nông nghiệp Đặc điểm cơ bản của đất nông nghiệp: Ở mỗi quốc gia dat đai đều đợc sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, riêng đất nông nghiệp có những đặc điểm cơ bản giống nhau, đợc biểu hiện cụ thé: Một là, đất nông nghiệp là tài liệu sản xuất đặc biệt và chủ yếu. Đất nông nghiệp là tài sản quốc gia vô cùng quý giá, là t liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế đợc của ngành nông - lâm nghiệp. Nó là cơ sở tự nhiên là tiên đê trớc tiên của mọi quá trình sản xuât.Mác đã từng chi rõ: dat là không gian, yếu tố cần thiết của tat thay moi quá trình sản xuât và mọi hoạt động của loài người.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam đã khang định đất dai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tài liệu sản xuất đặc biệt, là nguôn nội lực và là nguôn vôn to lớn của đât nớc Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp đất đai là t liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế được. Vì đất nông nghiệp vừa là t liệu lao động vừa là đối tợng lao động. Đối với các loại đất chuyên dùng khác thì đất đai chỉ là đối tượng lao động, con ngời phải sử dụng tài liệu lao động để tác động vào tạo ra sản phâm. Đất nông nghiệp là đối tượng lao động khi con ngời sử dụng công cụ sản xuất tác động vào đất làm cho dat thay đổi hình dạng, nh cày, bừa, lên luống.