Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh sở hữu tổng diện tích tự nhiên là 25.546,40 ha, chiếm 4,03% diện tích toàn tỉnh. Trong đó, quỹ đất nông nghiệp năm 2018 chiếm tỷ trọng áp đảo với 19.497,54 ha, tương đương 76,32% diện tích tự nhiên. Tuy nhiên, giai đoạn 2014 - 2018 ghi nhận sự suy giảm liên tục của diện tích đất sản xuất nông nghiệp khi sụt giảm 103,12 ha do sức ép từ tốc độ đô thị hóa nhanh, mở rộng khu công nghiệp, khai thác khoáng sản than đá với sản lượng trên 3,85 triệu tấn/năm và hạ tầng giao thông.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là giải quyết mâu thuẫn giữa việc thu hẹp quỹ đất canh tác và nhu cầu nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp hàng hóa bền vững. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: đánh giá toàn diện điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp; phân tích thực trạng và biến động sử dụng đất giai đoạn 2014 - 2018; đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các loại hình sử dụng đất (LUT) trên 3 tiểu vùng đặc thù; từ đó lựa chọn loại hình tối ưu và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất giai đoạn 2020 - 2022.

Nghiên cứu được triển khai tại thành phố Uông Bí trong phạm vi không gian 11 xã, phường và phạm vi thời gian thu thập dữ liệu tập trung từ năm 2014 đến 2018. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, hỗ trợ địa phương định hướng chuyển đổi cây trồng giá trị cao, hướng tới mục tiêu tăng thu nhập hỗn hợp của nông hộ thêm 15% đến 25%, đồng thời giữ vững độ che phủ rừng trên 52,2% nhằm bảo vệ cảnh quan khu di tích danh thắng Yên Tử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung đánh giá đất đai của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO, 1976; 1993) kết hợp khung quản lý đất đai bền vững FESLM (1991) dựa trên 5 nguyên tắc trụ cột: duy trì năng suất sản xuất, giảm thiểu rủi ro, bảo vệ tài nguyên môi trường, đảm bảo tính khả thi kinh tế và được xã hội chấp nhận. Đồng thời, đề tài tích hợp lý thuyết hệ thống và quan điểm sinh thái học nông nghiệp của Mác nhằm xem xét mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố tự nhiên và kinh tế trong không gian sử dụng đất.

Hệ thống khái niệm chuyên ngành cốt lõi được chuẩn hóa gồm:

  • Đất nông nghiệp: Tư liệu sản xuất đặc biệt theo Luật Đất đai năm 2013, gồm nhóm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản và đất nông nghiệp khác.
  • Loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT): Mô tả thực trạng sử dụng đất với những đặc điểm sinh thái, kỹ thuật canh tác và phương thức quản lý xác định.
  • Hiệu quả sử dụng đất bền vững: Mức độ tối ưu hóa đồng thời trên 3 phương diện: hiệu quả kinh tế (GTSX, CPTG, TNHH, HQĐV, GTNC), hiệu quả xã hội (giải quyết việc làm, an ninh lương thực) và hiệu quả môi trường (mức độ bón phân, sử dụng thuốc BVTV, bảo vệ độ phì nhiêu).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ số liệu thống kê đất đai giai đoạn 2014 - 2018 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Uông Bí, số liệu niên giám thống kê giai đoạn 2015 - 2018 của Chi cục Thống kê và các báo cáo phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Đối với dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu thực hiện điều tra chọn mẫu với quy mô 180 hộ nông dân trực tiếp canh tác. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đại diện theo 3 tiểu vùng sinh thái nông nghiệp: 60 hộ tại Tiểu vùng 1 (vùng cao: Thượng Yên Công, Vàng Danh, Bắc Sơn), 60 hộ tại Tiểu vùng 2 (vùng thung lũng: Phương Đông, Quang Trung, Trưng Vương) và 60 hộ tại Tiểu vùng 3 (vùng thấp: Phương Nam, Điền Công, Yên Thanh, Nam Khê).

Phương pháp thu thập và phân tích gồm: đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA), phỏng vấn bằng phiếu điều tra bán cấu trúc, phương pháp thống kê mô tả, so sánh kinh tế và phân cấp chỉ tiêu theo tiêu chuẩn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Việc lựa chọn phương pháp này giúp lượng hóa chính xác chi phí đầu vào và kết quả đầu ra trên từng hécta canh tác, đảm bảo phản ánh khách quan hiệu quả kinh tế của 17 kiểu sử dụng đất trong mốc thời gian nghiên cứu thực địa 2018 - 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Cơ cấu quỹ đất lâm nghiệp chiếm ưu thế tuyệt đối: Trong tổng số 19.497,54 ha đất nông nghiệp năm 2018, đất lâm nghiệp chiếm 13.522,39 ha (tương đương 69,38%), trong đó rừng đặc dụng Yên Tử chiếm 2.783,00 ha và rừng sản xuất chiếm 9.657,70 ha. Đất sản xuất nông nghiệp đạt 4.416,21 ha (chiếm 22,65%), còn lại là đất nuôi trồng thủy sản 1.559,91 ha (chiếm 8,00%) và đất nông nghiệp khác 15,05 ha.

  2. Xu hướng thu hẹp diện tích đất canh tác nông nghiệp: Giai đoạn 2014 - 2018, đất sản xuất nông nghiệp giảm 103,12 ha. Riêng giai đoạn 2017 - 2018, đất trồng lúa giảm 3,65 ha từ mức 1.771,99 ha xuống còn 1.768,34 ha do chuyển đổi sang đất sản xuất phi nông nghiệp (1,35 ha) và đất công cộng (2,31 ha); đất trồng cây lâu năm giảm 2,86 ha xuống còn 2.423,99 ha.

  3. Sự chênh lệch hiệu quả kinh tế sâu sắc giữa các loại hình sử dụng đất: Các loại hình trồng cây ăn quả đặc sản (vải chín sớm Phương Nam, thanh long) tại Tiểu vùng 2 và Tiểu vùng 3 đạt thu nhập hỗn hợp (TNHH) từ 120,50 đến 185,20 triệu đồng/ha/năm, hiệu quả đồng vốn (HQĐV) đạt 2,2 đến 2,8 lần. Ngược lại, loại hình chuyên trồng 2 vụ lúa nước tại các vùng trũng phèn chỉ đạt TNHH từ 35,20 đến 42,60 triệu đồng/ha/năm, giá trị ngày công lao động (GTNC) chỉ đạt 110.000 đến 135.000 đồng/công.

  4. Áp lực môi trường gia tăng tại các vùng chuyên canh: Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học ở các mô hình chuyên rau màu và hoa cao hơn 45% so với mức trung bình của vùng lúa, tiềm ẩn nguy cơ thoái hóa đất nếu không có biện pháp canh tác hữu cơ bù đắp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự phân hóa hiệu quả giữa 3 tiểu vùng bắt nguồn từ sự khác biệt về địa hình và thổ nhưỡng: Tiểu vùng 1 chiếm 45,6% diện tích tự nhiên chủ yếu là đất đỏ vàng đồi núi dốc trên 20 độ, thích hợp phát triển lâm nghiệp và cây dược liệu; Tiểu vùng 2 chiếm 20,0% diện tích là thung lũng ven đô màu mỡ, thuận lợi thâm canh rau quả; Tiểu vùng 3 chiếm 34,4% diện tích chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều sông Đá Bạc, phù hợp chuyển đổi sang mô hình lúa - rươi hoặc nuôi thủy sản nước lợ.

Kết quả nghiên cứu này hoàn toàn tương đồng với các công bố của Đỗ Nguyên Hải tại Bắc Ninh và Nông Thị Thu Huyền tại Bắc Kạn, khẳng định mô hình đa canh cây ăn quả và rau màu luôn cho giá trị kinh tế cao hơn gấp 3 đến 4 lần so với độc canh cây lúa truyền thống.

Để trực quan hóa các kết quả phân tích, dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày thông qua biểu đồ cột chồng biểu thị sự biến động của 5 nhóm đất nông nghiệp giai đoạn 2014 - 2018 và biểu đồ phân tán so sánh tương quan giữa chi phí trung gian (CPTG) với thu nhập hỗn hợp (TNHH) của 17 kiểu sử dụng đất. Ngoài ra, việc thiết lập bảng ma trận đa tiêu chí tích hợp chỉ số HQĐV, GTNC, ngày công lao động và điểm số tác động môi trường sẽ làm nổi bật tính ưu việt của từng LUT khi ra quyết định quy hoạch.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo không gian sinh thái: Ủy ban nhân dân thành phố Uông Bí và Phòng Kinh tế cần phê duyệt đề án chuyển đổi 150 đến 200 ha đất trồng lúa kém hiệu quả tại phường Phương Đông và Phương Nam sang mô hình chuyên canh vải chín sớm Phương Nam và thanh long ruột đỏ đạt chuẩn VietGAP, mục tiêu nâng giá trị sản xuất bình quân đạt trên 160 triệu đồng/ha/năm trong giai đoạn 2020 - 2022.

  2. Ứng dụng công nghệ canh tác nông nghiệp tuần hoàn: Trạm Khuyến nông phối hợp Hội Nông dân thành phố triển khai 20 lớp tập huấn kỹ thuật thâm canh bền vững, hướng dẫn nông hộ giảm 35% lượng phân bón vô cơ, giảm 40% lượng thuốc bảo vệ thực vật hóa học bằng cách thay thế bằng chế phẩm sinh học, hoàn thành trước quý IV năm 2021.

  3. Mở rộng chuỗi liên kết tiêu thụ nông sản gắn với du lịch tâm linh: Các Hợp tác xã nông nghiệp tại Thượng Yên Công và Phương Đông chủ động ký kết hợp đồng tiêu thụ 100% sản lượng nông sản sạch, cây ăn quả và dược liệu bản địa phục vụ trực tiếp cho hàng triệu lượt du khách tham quan quần thể Yên Tử - Ba Vàng, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nông sản qua chế biến đóng gói đạt 70% vào năm 2022.

  4. Tăng cường quản lý và giám sát quy hoạch sử dụng đất: Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu địa chính số hóa, kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, giữ vững diện tích 1.700 ha đất lúa trọng điểm và 2.060,3 ha đất rừng Quốc gia Yên Tử đến năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý nhà nước ngành Tài nguyên - Môi trường và Nông nghiệp: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và phương pháp phân vùng đất đai phục vụ trực tiếp cho việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hàng năm và định hướng tái cơ cấu nông nghiệp cấp huyện, thị xã.

  2. Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý đất đai: Cung cấp tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp đánh giá đất theo tiêu chuẩn FAO, phương pháp điều tra PRA nông hộ và bộ chỉ số phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường.

  3. Chủ nhiệm hợp tác xã, doanh nghiệp đầu tư nông nghiệp và trang trại: Giúp nắm bắt bức tranh chi tiết về suất vốn đầu tư, chi phí trung gian và doanh thu kỳ vọng của từng loại cây trồng để xây dựng phương án sản xuất kinh doanh đạt tỷ suất lợi nhuận cao.

  4. Chính quyền cơ sở và cộng đồng nông dân địa phương: Hỗ trợ UBND các xã, phường tuyên truyền, vận động người dân nắm bắt các loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao gấp 2 đến 3 lần nhằm chuyển đổi cơ cấu sản xuất an toàn, hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao luận văn phân chia thành phố Uông Bí thành 3 tiểu vùng sinh thái nông nghiệp?
Do địa hình Uông Bí có sự phân hóa phức tạp từ Bắc xuống Nam, gồm 45,6% diện tích đồi núi cao, 20,0% thung lũng và 34,4% vùng thấp trũng ven sông Đá Bạc. Việc phân chia 3 tiểu vùng giúp đánh giá chính xác tiềm năng thổ nhưỡng từ đất phù sa đến đất đỏ vàng, tránh áp dụng máy móc một mô hình canh tác cho toàn địa bàn.

Loại hình sử dụng đất nào mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất tại Uông Bí?
Loại hình chuyên trồng cây ăn quả đặc sản, nổi bật là vải chín sớm Phương Nam và thanh long tại Tiểu vùng 2 và 3, mang lại hiệu quả cao nhất. Thu nhập hỗn hợp của mô hình này đạt 120,50 đến 185,20 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 3 đến 4 lần so với mô hình 2 vụ lúa nước truyền thống chỉ đạt 35,20 đến 42,60 triệu đồng/ha/năm.

Quá trình công nghiệp hóa và khai thác than tác động ra sao đến đất nông nghiệp?
Hoạt động khai khoáng trên 600 ha mỏ than và quá trình đô thị hóa đã làm giảm 103,12 ha đất sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn 2014 - 2018. Bên cạnh việc thu hẹp diện tích canh tác, bãi thải mỏ và bụi than còn gây nguy cơ ô nhiễm nguồn nước tưới và xói mòn đất tại các xã vùng cao.

Nghiên cứu sử dụng những tiêu chí nào để đánh giá tính bền vững môi trường?
Nghiên cứu đánh giá mức độ sử dụng phân bón hóa học, lượng thuốc bảo vệ thực vật trên từng loại cây trồng, nguy cơ suy giảm độ phì nhiêu đất và tỷ lệ che phủ rừng đạt trên 52,2%. Các chỉ tiêu này phản ánh mức độ an toàn sinh thái của 17 kiểu sử dụng đất theo chuẩn phân cấp kỹ thuật.

Làm thế nào để nông dân Uông Bí tối ưu hóa hiệu quả đồng vốn đầu tư nông nghiệp?
Nông hộ nên chuyển đổi diện tích lúa trũng năng suất thấp sang mô hình luân canh rau màu cao cấp hoặc cây ăn quả VietGAP, kết hợp áp dụng hệ thống tưới tiết kiệm. Phương thức này giúp tăng hệ số hiệu quả đồng vốn (HQĐV) từ 1,3 lần ở ruộng lúa lên mức trên 2,5 lần trên mỗi chu kỳ canh tác.

Kết luận

  • Đất nông nghiệp thành phố Uông Bí năm 2018 chiếm 76,32% diện tích tự nhiên (19.497,54 ha), giữ vai trò then chốt trong cân bằng sinh thái và an sinh xã hội.
  • Giai đoạn 2014 - 2018 ghi nhận sự suy giảm 103,12 ha đất sản xuất nông nghiệp do sức ép mạnh mẽ từ phát triển công nghiệp than, điện và mở rộng không gian đô thị.
  • Đánh giá trên 3 tiểu vùng khẳng định các mô hình trồng cây ăn quả đặc sản và rau màu cao cấp mang lại thu nhập hỗn hợp vượt trội từ 120,50 đến 185,20 triệu đồng/ha/năm so với độc canh cây lúa.
  • Luận văn cung cấp khung phương pháp luận khoa học vững chắc và hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác phục vụ trực tiếp cho công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện.
  • Đề xuất lộ trình chuyển đổi 150 đến 200 ha đất canh tác kém hiệu quả sang mô hình sinh thái giá trị cao, hoàn thành đồng bộ trong giai đoạn 2020 - 2022.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Mai Hương là công trình nghiên cứu công phu, giải quyết hài hòa bài toán kinh tế - xã hội - môi trường trong quản trị tài nguyên đất. Quý bạn đọc, nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác tài liệu này để ứng dụng vào công tác quy hoạch và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp bền vững tại địa phương.