MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông-lâm nghiệp, là một trong những nguồn lực quan trong cho chiến lƣợc phát triển nền nông nghiệp quốc gia nói riêng cũng nhƣ chiến lƣợc phát triển nền kinh tế nói chung. Nó là môi trƣờng sống, là cơ sở tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với con ngƣời, đất đai cũng có những vị trí vô cùng quan trọng, con ngƣời không thể tồn tại nếu không có đất đai, mọi hoạt động đi lại, sống và làm việc đều gắn với đất đai.
Và hiện nay, đất đai từng bƣớc đƣợc sử dụng có hiệu quả, đúng quy định pháp luật và trở thành nội lực quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển đô thị, kinh tế - xã hội. Quá trình đô thị hóa mạnh mẽ cùng với sự gia tăng dân số đã dẫn tới sự thay đổi lớn trong hiện trạng sử dụng đất ở hầu hết các tỉnh thành ở Việt Nam, nhất là các đô thị. Kết quả của quá trình đô thị hóa là làm cho đất nông nghiệp nhanh chóng bị thu hẹp nhƣờng chỗ cho các loại hình sử dụng đất khác nhƣ đất ở, đất xây dựng khu công nghiệp hay các công trình công cộng. Ở Việt Nam, nhiều năm trƣớc đây chƣa nhận thức hết tầm quan trọng của công tác quản lý và sử dụng đất, việc quản lý quỹ đất còn bị buông lỏng làm không đáp ứng đƣợc nhu cầu đất đai trong hiện tại và tƣơng lai.
Đã xảy ra nhiều hiện tƣợng tiêu cực và sử dụng đất kém hiệu quả ảnh hƣởng đến sự phát triển của xã hội. Cùng với đó, tốc độ phát triển kinh tế-xã hội ngày càng cao đã gây áp lực lớn lên đất đai, sự ô nhiễm môi trƣờng ngày càng tăng làm cho đất dần bị suy thoái. Việc đánh giá về hiện trạng và tiềm năng đất đai có hiệu quả kinh tế cao trên quan điểm bền vững dựa trên việc nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, tình hình quản lý sử dụng đất là vấn đề quan trọng mà các nƣớc trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển cũng nhƣ Việt Nam đang quan tâm, đó là nhiệm vụ không thể thiếu đƣợc trong quy hoạch đất. Bởi vậy, các cấp chính quyền cần có biện pháp, giải pháp mang tính tổng thể về mặt quản lý Nhà nƣớc đối với lĩnh vực này trong giai đoạn trƣớc mắt cũng nhƣ định hƣớng lâu dài và cụ thể hóa bằng các phƣơng án quy hoạch sử dụng đất 10 năm và kế hoạch sử dụng đất 5 năm, hàng năm.
1 Thành phố Hà Tĩnh cách Hà Nội 360 km và Vinh 50 km về phía Nam. Diện tích đất tự nhiên của Thành phố 56.32,64 ha, trong đó đất phi nông nghiệp 2.064,69ha (đất ở đô thị 298,70ha, đất ở nông thôn 145,88ha, đất chuyên dùng 1 620,11 ha); đất nông nghiệp 3.167,16 ha; đất khác 400,79ha. Là địa bàn trung tâm, có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh của tỉnh. Trong những năm qua, theo quá trình dịch chuyển kinh tế của đất nƣớc từ nền kinh tế thuần nông sang nền kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với quá trình đô thị hóa, cùng với sự gia tăng dân số, đã làm thay đổi trên quy mô lớn và tốc độ cao cơ cấu sử dụng đất của thành phố.
Do đó, việc nghiên cứu biến động sử dụng đất trên diện rộng và thời gian dài là vô cùng cần thiết. Xuất phát từ những vấn đề trên, đƣợc sự phân công của Khoa Tài nguyên và môi trƣờng - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, dƣới sự hƣớng dẫn của Ths. Nguyễn Tuấn Anh và đƣợc sự chấp nhận của phòng Tài nguyên và Môi trƣờng thành phố Hà Tĩnh, em xin tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh”. Mục đích, yêu cầu của đề tài nghiên cứu 2.
Mục đích - Đánh giá tình hình biến động đất đai giai đoạn 2016 - 2021 nhằm tìm ra xu thế biến động và nguyên nhân gây ra biến động trong sử dụng đất của thành phố Hà Tĩnh. - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất thành phố Hà Tĩnh nhằm tìm ra những tồn tại trong sử dụng đất của thành phố. - Đề xuất các giải pháp quản lý và sử dụng đất nhằm khai thác có hợp lý, hiệu quả quỹ đất của địa phƣơng. Yêu cầu - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất phải đầy đủ, công tác điều tra thu thập số liệu phải chính xác, đúng hiện trạng, trung thực và đảm bảo tính khách quan.
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu. - Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất làm cơ sở quản lý và sử dụng đất theo quy định của pháp luật, xử lý các sai phạm trong quản lý và sử dụng đất trên địa bàn thành phố. 2 - Xác định và tìm hiểu nguyên nhân gây ra xu thế biến động đất đai trong những năm qua. - Đề xuất định hƣớng sử dụng đất phù hợp và gắn liền với định hƣớng phát triển kinh tế - xã hội của huyện nhằm phát huy đƣợc nguồn lực, lợi thế về đất đai của địa phƣơng.
Đồng thời phải xuất phát từ tình hình đất đai cụ thể, phù hợp với định hƣớng chung trong khai thác sử dụng đất. Phân bố quỹ đất hợp lý cho các ngành, các đối tƣợng sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả cao. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Khái quát chung về đánh giá hiện trạng sử dụng đất 1.
Khái niệm về đánh giá hiện trạng sử dụng đất Đánh giá hiện trạng sử dụng đất là mô tả hiện trạng sử dụng đất từng quỹ đất (đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chƣa sử dụng). Đối với quá trình quy hoạch và sử dụng đất cũng vậy, công tác đánh giá hiện trạng sử dụng đất là một nội dung quan trọng. Từ đó rút ra những nhận định, kết luận về tính hợp lý hay chƣa hợp lý trong sử dụng đất, làm cơ sở để đề ra những quyết định sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao, nhƣng vẫn đảm bảo việc sử dụng đất theo hƣớng bền vững. Đánh giá hiện trạng sử dụng đất làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất những phƣơng thức sử dụng đất hợp lý.
Việc đánh giá chính xác, đầy đủ, cụ thể thể hiện quyết định chính xác, phù hợp với việc sử dụng đất hiện tại và hƣớng sử dụng đất trong tƣơng lai (Nguyễn Thị Vòng và cộng sự, 2008) Hiện trạng sử dụng đất của các địa phƣơng đƣợc mô tả theo các mẫu biểu quy định thống nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng. Hiện trạng sử dụng đất đƣợc phân theo mục đích sử dụng, theo thành phần kinh tế và theo các đơn vị hành chính cấp dƣới. - Theo mục đích sử dụng, cần đánh giá thực trạng của từng quỹ đất (đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chƣa sử dụng). - Theo thành phần kinh tế, cần xác định rõ diện tích và cơ cấu đất của các đối tƣợng sử dụng nhƣ: hộ gia đình, cá nhân; các tổ chức kinh tế; UBND phƣờng và các đối tƣợng khác.
- Phân tích tính hiệu quả sử dụng đất trong thời gian qua, đặc biệt là giai đoạn 5 năm gần đây. Hiệu quả sử dụng đất đai đƣợc phân tích theo các chỉ tiêu sau: + Tỷ lệ sử dụng đất: là tỷ lệ của phần diện tích đất đai đƣợc khai thác sử dụng vào các mục đích kinh tế khác nhau so với tổng diện tích tự nhiên và đƣợc tính theo công thức: PTN - PH α= *100 (1) PTN + Tỷ lệ sử dụng các loại đất đƣợc tính theo công thức sau: 4 Pi βi = *100 (2) PTN + Độ che phủ đƣợc tính theo công thức sau: PR + PQ γ= *100 (3) PTN Trong đó: α : Tỷ lệ sử dụng đất đai PTN : Tổng diện tích tự nhiên PH : Diện tích đất chƣa sử dụng βi : Tỷ lệ sử dụng của loại đất Pi : Diện tích sử dụng của loại đất γ : Độ che phủ đất PR : Diện tích đất có rừng PQ : Diện tích trồng cây lâu năm. Sự cần thiết phải đánh giá hiện trạng sử dụng đất Đất đai là tƣ liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp, là đối tƣợng sản xuất đồng thời cũng là nơi sản xuất ra lƣợng thực, thực phẩm và là nhân tố quan trọng hợp thành môi trƣờng sống. Việc sử dụng tài nguyên đất đai hợp lý không những góp phần tạo đà cho sự phát triển mà còn đảm bảo an ninh, quốc phòng.
Trong khi đó tài nguyên đất đai lại có hạn, vì vậy cần phải sử dụng hợp lý, đảm bảo đƣợc sự hiệu quả cũng nhƣ sử dụng lâu dài. Để làm đƣợc nhƣ vậy chúng ta phải đánh giá đƣợc tài nguyên đất (Đào Thu Châu, Nguyễn Khang, 1998). Do tầm quan trọng của việc sử dụng đất tiết kiệm và bề vững, đòi hỏi việc sử dụng đất phải theo quy hoạch, kế hoạch ở các cấp. Song để có đƣợc một phƣơng án quy hoạch sử dụng đất hợp lý, có tính khả thi cao thì ngƣời lập quy hoạch phải hiểu một cách sâu sắc về hiện tƣợng sử dụng đất cũng nhƣ tiềm năng và nguồn lực của vùng cần lập quy hoạch.
Vì vậy cần phải đánh giá hiện trạng sử dụng đất giúp cho ngƣời lập quy hoạch nắm rõ, nắm đầy đủ và chính xác hiện trạng sử dụng đất cũng nhƣ những biến động trong những năm vừa qua, từ đó đƣa ra những định hƣớng sử dụng đất phù hợp với điều kiện của vùng nghiên cứu và định hƣớng sử dụng đất trong 5 tƣơng lai. Đánh giá hiện trạng sử dụng đất là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý Nhà nƣớc về đất đai cũng nhƣ trong quy trình quy hoạch sử dụng đất, đƣợc quy định tại Thông tƣ số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Hiện nay tình hình quản lý và sử dụng đất là một vấn đề nổi cộm trong xã hội, hiện tƣợng lấn chiếm, tranh chấp đất đai xảy ra thƣờng xuyên đã gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý đất đai ở địa phƣơng. Do đó để quản lý chặt chẽ quỹ đất thì cần phải nắm bắt đƣợc các thông tin, dữ liệu về hiện trạng sử dụng đất.
Các kết quả đánh giá hiện trạng sử dụng đất sẽ tạo cơ sở cho việc nắm chắc quản lý chặt chẽ quỹ đất của địa phƣơng.