Luận án tiến sĩ: Hiệu quả của siêu lọc trong phẫu thuật tim sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể

Luận án tiến sĩ phân tích hiệu quả siêu lọc trong phẫu thuật tim sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể, đóng góp quan trọng cho y học lâm sàng.

Chuyên ngành

Gây mê hồi sức

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2018

159
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1. PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU

PHỤ LỤC 2. PHIẾU THÔNG TIN CHO BỆNH NHÂN

PHỤ LỤC 3. CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG ĐẠO ĐỨC

PHỤ LỤC 4. DANH SÁCH BỆNH NHÂN

Tóm tắt

I. Giới thiệu và mục tiêu nghiên cứu

Luận án tập trung vào đánh giá hiệu quả của siêu lọc trong phẫu thuật tim với tuần hoàn ngoài cơ thể. Mục tiêu chính là so sánh các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng giữa nhóm sử dụng siêu lọc và nhóm chứng. Các chỉ số bao gồm thời gian thở máy, thời gian nằm hồi sức, thời gian nằm viện, lượng máu truyền, nồng độ hemoglobin, đường huyết, và tỷ lệ biến chứng nội khoa. Nghiên cứu này nhằm cải thiện kết quả hậu phẫu và giảm thiểu các biến chứng liên quan đến tuần hoàn ngoài cơ thể.

1.1. Bối cảnh và lý do nghiên cứu

Phẫu thuật tim với tuần hoàn ngoài cơ thể là phương pháp phổ biến để điều trị các bệnh lý tim mạch. Tuy nhiên, phương pháp này gây ra nhiều biến chứng như tổn thương cơ quan, phản ứng viêm hệ thống, và kéo dài thời gian hồi phục. Siêu lọc được xem là giải pháp tiềm năng để giảm thiểu các tác động bất lợi này. Nghiên cứu này nhằm xác định hiệu quả của siêu lọc trong việc cải thiện kết quả hậu phẫu.

1.2. Mục tiêu cụ thể

Nghiên cứu đặt ra các mục tiêu cụ thể: so sánh thời gian thở máy, thời gian nằm hồi sức, và thời gian nằm viện giữa hai nhóm. Đồng thời, đánh giá ảnh hưởng của siêu lọc lên nồng độ hemoglobin, lượng máu truyền, đường huyết, và tỷ lệ biến chứng nội khoa. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc ứng dụng siêu lọc trong phẫu thuật tim.

II. Tổng quan về phẫu thuật tim và tuần hoàn ngoài cơ thể

Phẫu thuật tim với tuần hoàn ngoài cơ thể đã được ứng dụng từ năm 1953. Phương pháp này thay thế chức năng tim và phổi tạm thời, tạo điều kiện cho phẫu thuật viên thực hiện các thủ thuật phức tạp. Tuy nhiên, tuần hoàn ngoài cơ thể gây ra nhiều tác động bất lợi như tổn thương cơ quan, phản ứng viêm hệ thống, và kéo dài thời gian hồi phục. Các nghiên cứu gần đây tập trung vào việc giảm thiểu các tác động này thông qua các biện pháp như siêu lọc.

2.1. Lịch sử phát triển

Tuần hoàn ngoài cơ thể bắt đầu được ứng dụng từ năm 1953 với phẫu thuật đóng lỗ thông liên nhĩ. Các cải tiến về kỹ thuật và thiết bị đã giúp giảm thiểu các biến chứng liên quan. Tuy nhiên, các tác động bất lợi như tổn thương cơ quan và phản ứng viêm hệ thống vẫn là thách thức lớn. Siêu lọc được xem là giải pháp tiềm năng để cải thiện kết quả hậu phẫu.

2.2. Cơ chế tổn thương cơ quan

Tuần hoàn ngoài cơ thể gây tổn thương cơ quan thông qua các cơ chế như pha loãng máu, hoạt hóa hệ thống viêm, và tổn thương thiếu máu/tái tưới máu. Các cơ quan bị ảnh hưởng nặng nề nhất là phổi, thận, và hệ thần kinh. Siêu lọc được kỳ vọng sẽ giảm thiểu các tác động này thông qua việc loại bỏ các chất trung gian gây viêm và cải thiện lưu lượng máu.

III. Phương pháp nghiên cứu và kết quả

Nghiên cứu được thiết kế với hai nhóm: nhóm sử dụng siêu lọc và nhóm chứng. Các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng được thu thập và phân tích để đánh giá hiệu quả của siêu lọc. Kết quả cho thấy nhóm sử dụng siêu lọc có thời gian thở máy ngắn hơn, thời gian nằm hồi sức và nằm viện giảm đáng kể. Nồng độ hemoglobin và lượng máu truyền cũng được cải thiện. Tỷ lệ biến chứng nội khoa giảm đáng kể ở nhóm sử dụng siêu lọc.

3.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên hai nhóm bệnh nhân: nhóm sử dụng siêu lọc và nhóm chứng. Các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng được thu thập và phân tích để đánh giá hiệu quả của siêu lọc. Phương pháp chọn mẫu và quản lý dữ liệu được thực hiện theo tiêu chuẩn nghiên cứu lâm sàng.

3.2. Kết quả nghiên cứu

Kết quả cho thấy nhóm sử dụng siêu lọc có thời gian thở máy ngắn hơn, thời gian nằm hồi sức và nằm viện giảm đáng kể. Nồng độ hemoglobin và lượng máu truyền cũng được cải thiện. Tỷ lệ biến chứng nội khoa giảm đáng kể ở nhóm sử dụng siêu lọc. Kết quả này khẳng định hiệu quả của siêu lọc trong phẫu thuật tim với tuần hoàn ngoài cơ thể.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu khẳng định siêu lọc có hiệu quả trong việc cải thiện kết quả hậu phẫu ở bệnh nhân phẫu thuật tim với tuần hoàn ngoài cơ thể. Việc ứng dụng siêu lọc giúp giảm thời gian thở máy, thời gian nằm hồi sức, và thời gian nằm viện. Đồng thời, siêu lọc cải thiện nồng độ hemoglobin, giảm lượng máu truyền, và giảm tỷ lệ biến chứng nội khoa. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc ứng dụng rộng rãi siêu lọc trong phẫu thuật tim.

4.1. Ý nghĩa nghiên cứu

Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng khoa học về hiệu quả của siêu lọc trong phẫu thuật tim với tuần hoàn ngoài cơ thể. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện kết quả hậu phẫu và giảm thiểu các biến chứng liên quan. Đây là cơ sở để ứng dụng siêu lọc rộng rãi trong các trung tâm phẫu thuật tim.

4.2. Hướng nghiên cứu tương lai

Nghiên cứu này mở ra hướng nghiên cứu mới về việc tối ưu hóa kỹ thuật siêu lọc và ứng dụng trong các loại phẫu thuật tim khác nhau. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc đánh giá hiệu quả dài hạn của siêu lọc và tác động của nó lên chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật tim.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Phẫu thuật tim mở, với sự trợ giúp của máy tim phổi nhân tạo, sửa chữa các bệnh lý tim do dị tật bẩm sinh hay mắc phải. Trong quá trình mổ, một phần hoặc toàn bộ chức năng tim phổi được thay thế bởi hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể. Bắt đầu đưa vào sử dụng từ năm 1953, cho đến nay, tuần hoàn ngoài cơ thể vẫn là phần thay thế chức năng tim phổi, tạo ra phẫu trường sạch máu trong phần lớn các cuộc mổ tim [44], [105]. Tuần hoàn ngoài cơ thể phơi bày máu của bệnh nhân với các bề mặt không sinh lý của đường ống dẫn máu, gây thiếu máu/tái tưới máu trong quá trình làm ngưng tim, làm tổn thương chức năng các cơ quan trong và sau mổ.

Những tổn thương này bao gồm: suy giảm chức năng hô hấp với giảm độ đàn hồi phổi, giảm trao đổi oxy, kéo dài thời gian thở máy; rối loạn chức năng hệ tim mạch với việc sử dụng thuốc tăng co bóp cơ tim kéo dài; rối loạn chức năng gan, thận, thần kinh [106]. Theo một nghiên cứu của Rady và cộng sự trên 1157 bệnh nhân mổ tim ≥ 75 tuổi, tỷ lệ tử vong là 8%, nhưng tỷ lệ biến chứng lên đến 50%. Nhiều biến chứng hậu phẫu có nguyên nhân liên quan đến phản ứng viêm hệ thống do tuần hoàn ngoài cơ thể [88]. Hạn chế những ảnh hưởng bất lợi của tuần hoàn ngoài cơ thể giúp cho giai đoạn hậu phẫu được rút ngắn một cách an toàn.

Việc này giúp giảm thời gian nằm viện, chất lượng sống sau mổ tốt hơn, giảm được gánh nặng về chi phí điều trị và chăm sóc cho gia đình, xã hội [67]. Các trung tâm phẫu thuật tim đang thực hiện những nghiên cứu về giảm tổn thương cơ quan sau mổ tim mở, bao gồm: dùng thuốc điều trị đáp ứng viêm hệ thống sau tuần hoàn ngoài cơ thể, hạn chế dùng tuần hoàn ngoài cơ thể khi có thể (phẫu thuật bắc cầu chủ vành không dùng tuần hoàn ngoài cơ thể), thay đổi chất liệu dùng trong 2 ống dây và phổi nhân tạo, sử dụng các biện pháp hạn chế pha loãng máu, giảm kích thước dây nhằm giảm dung dịch mồi, dùng siêu lọc thường quy trong và sau tuần hoàn ngoài cơ thể [56], [107]. Siêu lọc được ứng dụng thường quy trong phẫu thuật tim mở với bệnh nhi nhằm hạn chế pha loãng máu, giảm đáp ứng viêm hệ thống, giảm tổn thương cơ quan sau tuần hoàn ngoài cơ thể [56]. Nhiều nghiên cứu gần đây trên thế giới xem xét về hiệu quả điều trị của siêu lọc đối với bệnh nhân người lớn mổ tim mở có tuần hoàn ngoài cơ thể.

Câu hỏi nghiên cứu đặt ra ở đây là: siêu lọc có hiệu quả trong việc giảm các ảnh hưởng bất lợi của tuần hoàn ngoài cơ thể ở bệnh nhân người lớn? Phẫu thuật tim mở ở Việt Nam được thực hiện thường quy từ nhiều năm nay, nhưng chưa có những nghiên cứu về các biện pháp làm giảm ảnh hưởng bất lợi của tuần hoàn ngoài cơ thể trên bệnh nhân người lớn. Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả của siêu lọc trong phẫu thuật tim có tuần hoàn ngoài cơ thể trên bệnh nhân người lớn. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đánh giá hiệu quả của siêu lọc trong phẫu thuật tim có tuần hoàn ngoài cơ thể bằng biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả ngắn hạn của hai nhóm sử dụng siêu lọc và nhóm chứng: 1. So sánh thời gian thở máy sau phẫu thuật, thời gian nằm hồi sức, thời gian nằm viện của 2 nhóm nghiên cứu.

So sánh thể tích truyền máu và các chế phẩm máu, nồng độ Hemoglobine, tình trạng tăng đường huyết trong và sau mổ, tần suất các biến chứng nội khoa sau mổ của 2 nhóm nghiên cứu. So sánh số lượng và tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính sau mổ, nồng độ CRP/máu trong và sau mổ của 2 nhóm nghiên cứu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. PHẪU THUẬT TIM VÀ TUẦN HOÀN NGOÀI CƠ THỂ 1.

Tổn thương cơ quan sau phẫu thuật tim mở liên quan đến tuần hoàn ngoài cơ thể 1. Lịch sử gây mê hồi sức và tuần hoàn ngoài cơ thể trong phẫu thuật tim mở Phẫu thuật tim mở bắt đầu thực hiện trên người từ năm 1953. Trong những năm đầu, các bác sĩ gây mê gặp rất nhiều khó khăn: chảy máu trong và sau mổ, truyền máu khối lượng lớn, giảm lưu lượng tim và chức năng co bóp cơ tim sau mổ do kỹ thuật bảo vệ cơ tim và sửa chữa, tổn thương phổi sau tuần hoàn ngoài cơ thể, suy chức năng đa cơ quan sau giai đoạn tuần hoàn ngoài cơ thể kéo dài, suy thận, các biến chứng thần kinh…Từ năm 1957, những nghiên cứu của các phẫu thuật viên và các nhà gây mê hồi sức đã chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa các tai biến với tuần hoàn ngoài cơ thể. Lịch sử mổ tim mở cho đến nay vẫn còn gắn liền với lịch sử phát triển của tuần hoàn ngoài cơ thể.

Năm 1813, Le Gallois đưa ra một ý tưởng về “một hệ thống nhân tạo để tưới máu cho các phần khác nhau của cơ thể, biệt lập với trái tim và thay thế chức năng của tim”. Từ ý tưởng này, năm 1885, hệ thống máy tim phổi nhân tạo đầu tiên được thiết lập bởi Von Frey và Grubber. Năm 1934, De Bakey cho sản xuất máy tim phổi nhân tạo kiểu bơm con lăn. Bộ phận phổi nhân tạo cũng thay đổi: từ kiểu màng của Gibbon, kiểu dĩa của Bjork, đến kiểu sủi bọt do De Wall thiết kế [44].

Mục đích của tuần hoàn ngoài cơ thể là thay thế tạm thời tim và phổi trong khi tim ngừng đập và không chứa máu. 5 Phẫu thuật tim mở lần đầu tiên với tuần hoàn ngoài cơ thể là phẫu thuật đóng lỗ thông liên nhĩ, được Gibbons thực hiện thành công năm 1953, sau hàng loạt các nghiên cứu về vòng tuần hoàn, màng trao đổi oxy, chống đông máu bằng heparine, trung hòa heparine bằng protamine sulfate. Việc làm đầy hệ tuần hoàn nhân tạo trong giai đoạn này được thực hiện với máu toàn phần. Tiêm truyền dung dịch có nồng độ kali cao để gây liệt tim, hạ nhiệt độ máu tuần hoàn, tưới rửa bề mặt tim bằng dung dịch lạnh…là những kỹ thuật dùng để bảo vệ cơ tim trong giai đoạn kẹp động mạch chủ.

Những kỹ thuật này cho đến nay đã được cải tiến nhiều (pha loãng máu, hạ thân nhiệt vừa phải…) nhờ những hiểu biết về truyền máu, về sinh lý tuần hoàn và hạ thân nhiệt, làm giảm các biến chứng của tuần hoàn ngoài cơ thể [105]. Sự khám phá ra nhựa tổng hợp (polyvinyl, silicone…) cũng mở đường cho việc sản xuất các thành phần của hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể phát triển. Phổi nhân tạo dạng sủi bọt dễ gây tai biến thuyên tắc khí và nguy cơ thuyên tắc vi tuần hoàn đã được thay thế bằng phổi nhân tạo dạng màng. Phổi nhân tạo hiện nay có tráng các hoạt chất sinh học để hạn chế sự tiếp xúc của máu với các bề mặt không sinh lý, hệ thống ống dẫn máu được tráng heparine làm giảm sự kết dính của tiểu cầu trên các bề mặt ống…cũng góp phần vào việc giảm các hậu quả của tuần hoàn ngoài cơ thể lên hệ thống miễn dịch, lên quá trình đông máu và đặc biệt là lên hệ thống các cơ quan: não, tim, phổi [76].

Các yếu tố gây tổn thương cơ quan [106] Cơ chế chủ yếu gây tổn thương các cơ quan khi có tuần hoàn ngoài cơ thể là do: - Pha loãng máu và giảm độ nhớt máu, chủ yếu trong giai đoạn bắt đầu tuần hoàn ngoài cơ thể, hậu quả là giảm lưu lượng máu tới các cơ quan và thay đổi đặc điểm tưới máu mô qua hệ mao mạch. 6 - Hoạt hóa hệ thống viêm toàn thân, là hậu quả không thể tránh được sau tuần hoàn ngoài cơ thể. - Tổn thương thiếu máu/tái tưới máu ở tim, phổi và các cơ quan được tưới máu bởi hệ tuần hoàn tạng. - Bơm máu không tạo ra mạch đập sinh lý.

Các cơ quan bị ảnh hưởng nặng nhất là phổi, thận, hệ tiêu hóa, hệ thần kinh. Mặt khác, do bản chất của phẫu thuật tim, bản thân cơ tim cũng bị tổn thương. Cơ chế chính gây ra đáp ứng viêm trong tuần hoàn ngoài cơ thể Bao gồm: - Hoạt hóa hệ thống bổ thể - Hoạt hóa chuỗi phản ứng phân hủy fibrinogen và kallikrein - Tổng hợp các cytokine - Tạo ra các gốc oxy tự do - Hoạt hóa các bạch cầu hạt với sự mất hạt bạch cầu và phóng thích các enzyme hủy protein. Sự chuyển từ tuần hoàn sinh lý sang tuần hoàn ngoài cơ thể tạo ra sự phơi bày máu với các bề mặt của hệ thống dây, phổi nhân tạo, là những vật liệu "không sinh lý".

Sự tiếp xúc bất lợi này, cùng với kỹ thuật hạ thân nhiệt, tổn thương các mô, sự thiếu máu cơ quan, tổn thương tái tưới máu, mạch đập không sinh lý gây thay đổi tưới máu cơ quan…tạo ra một phản ứng phức tạp làm hoạt hóa các bổ thể, tiểu cầu, đại thực bào, bạch cầu hạt và đơn bào. Phản ứng này mạnh mẽ và cấp tính, làm khởi động “dòng thác” đông máu, khởi động quá trình hoạt hóa các bổ thể và kích hoạt các chất trung gian gây viêm, cũng như tiêu hủy fibrinogen và kallikrein, tạo ra một đáp ứng viêm mạnh mẽ tương tự như phản ứng của cơ thể trong sốc nhiễm trùng [25], [107]. 7 Đáp ứng viêm hệ thống càng nặng nề thêm do hậu quả của sự phóng thích các nội độc tố, các cytokine và TNF [95]. Bên cạnh đó, có sự tăng tính thấm màng tế bào nội mô, sự phóng thích các men huỷ protein bị kích hoạt bởi sự di trú của các tế bào bạch cầu đã được phóng thích vào trong mô.

Sự phá hủy các mô do di trú tế bào có thể làm trầm trọng thêm tổn thương thiếu máu/tái tưới máu trong phẫu thuật tim. Điểm đặc trưng của đáp ứng viêm trong tuần hoàn ngoài cơ thể là đông máu bất thường, giãn mạch, sự di chuyển của dịch từ nội mạch vào mô kẽ, các thuyên tắc vi tuần hoàn [18]. Hậu quả trên lâm sàng thay đổi theo nhiều mức độ, từ những rối loạn chức năng thoáng qua đến những rối loạn toàn bộ các cơ quan. Đáp ứng viêm hệ thống cũng kết hợp với biến chứng hậu phẫu như thần kinh, phổi, tim, thận [57], [67].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh giá hiệu quả siêu lọc trong phẫu thuật tim với tuần hoàn ngoài cơ thể" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của siêu lọc trong quá trình phẫu thuật tim, đặc biệt là khi sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể. Tài liệu này nêu bật những lợi ích của siêu lọc, bao gồm việc giảm thiểu biến chứng, cải thiện kết quả phẫu thuật và nâng cao sự an toàn cho bệnh nhân. Đối với những ai quan tâm đến lĩnh vực phẫu thuật tim, tài liệu này không chỉ giúp họ hiểu rõ hơn về kỹ thuật siêu lọc mà còn mở ra những hướng nghiên cứu mới trong điều trị.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan, hãy tham khảo các tài liệu như Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả của phẫu thuật van hai lá ít xâm lấn qua đường mở ngực phải, nơi bạn có thể khám phá thêm về các phương pháp phẫu thuật ít xâm lấn. Bên cạnh đó, Luận án đánh giá kết quả phẫu thuật cắt đoạn và nối máy trong điều trị ung thư trực tràng giữa và thấp cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về các kỹ thuật phẫu thuật tiên tiến. Cuối cùng, Luận án nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật kiểm soát chọn lọc cuống glisson trong cắt gan điều trị ung thư tế bào gan sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các ứng dụng của kỹ thuật phẫu thuật trong điều trị ung thư. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết trong lĩnh vực y học.