MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập. Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển.
Lương thực thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn. Các loại nông, lâm thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hóa công nghiệp. Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm, thủy sản.
Cùng với xu thế phát triển nông nghiệp, hàng hoá hội nhập quốc tế là một yêu cầu bức thiết với nền nông nghiệp, do vậy cần phải đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp, thay đổi cơ cấu cây trồng theo hướng tăng tỷ trọng các cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, để làm sao cùng với diện tích đó nhưng có thể mang lại hiệu quả kinh tế gấp nhiều lần. Do đó, ngành trồng trọt không thể thiếu việc phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất cây trồng nói chung và phát huy thế mạnh của từng vùng nói riêng. Một trong những nhu cầu để phát triển kinh tế mang lại hiệu quả cao là phát triển theo hướng quy mô trang trại. Nhật Bản được xem như cái nôi của sự phát triển công nghệ thế giới.
Trong đó, nông nghiệp công nghệ cao Nhật Bản chính là tấm gương sáng mà một đất nước đi lên từ cây lúa như Việt Nam cần noi theo. Trong thời gian qua, kinh tế trang trại có bước phát triển cao và có tính quy luật, là mô hình sản xuất đã có từ lâu, mang tính phổ biến và giữ vai trò h 2 quan trọng trong quá trình phát triển nông nghiệp, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Để nâng cao giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích đất, nhà nước đã có nhiều chính sách để khuyến khích phát triển những mô hình kinh tế trang trại phù hợp gắn với đặc điểm của từng vùng miền, nhiều quốc gia đã hình thành những mô hình trang trại với quy mô lớn như Israel, Nhật Bản, Mỹ… Việc hình thành nhiều mô hình trang trại đã góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, khai thác và sử dụng đất trống một cách hiệu quả để sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng chuyên canh với tỷ suất hàng hoá cao, giá trị kinh tế lớn. Một trong những đất nước đã thành công về việc tổ chức, quản lý, thực hiện các mô hình trang trại có tính chuyên môn, kỹ thuật cao mà em đã từng đến đó là trang trại Rau Endo Torohiro làng Kawakami, Nhật Bản.
Được sự đồng ý của nhà Trường và Khoa kinh tế và phát triển nông thôn trường đại học Nông lâm Thái Nguyên, đồng thời dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo Ths. Nguyễn Mạnh Thắng, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sản xuất của trang trại rau Endo Torohiro tại làng Kawakami Mura Nhật Bản và khả năng áp dụng mô hình trang trại vào Việt Nam’'. Mục tiêu nghiên cứu a) Về chuyên môn nghiệp vụ - Tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của trang trại Rau Endo Torohiro tại làng Kawakami, Nhật Bản. - Đánh giá hiệu quả sản xuất của trang trại rau Endo Torohiro tại làng Kawakami Mura nhật Bản và khả năng áp dụng mô hình trang trại vào việt nam - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế của trang trại Rau Endo Torohiro và đề xuất các giải pháp phát triển trang trại.
- Thực trạng sản xuất rau cải thảo tại làng Kawakami. - Tìm ra các giải pháp trong sử dụng đất nông nghiệp ứng dụng được ở Việt Nam. h 3 + Phân tích được thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức của trang trại Rau Endo Torohiro. b) Về thái độ và ý thức trách nhiệm * Về thái độ và ý thức làm việc: + Có thái độ nhiệt tình, chủ động trong công việc, nghiêm túc học hỏi.
+ Hòa nhã với mọi người trong trang trại, sẵn sàng giúp đỡ mọi người. + Ghi chép đầy đủ và hoàn thành tốt công việc được giao. * Về trách nhiệm của bản thân + Có tinh thần trách nhiệm cao trong quá trình làm việc. + Thực hiện nghiêm túc các nội quy và quy định của trang trại trong thời gian thực tập.
+ Nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quan sát, kỹ năng ứng xử hiệu quả trong công việc. Phương pháp nghiên cứu * Thu thập số liệu thứ cấp - Trên Internet các số liệu thống kê, tổng quan về đất nước Nhật Bản, về tình hình sản xuất nông nghiệp, về tình hình xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp. Các công nghệ đang được áp dụng trong sản xuất nông nghiệp. - Thu thập số liệu cụ thể về trang trại: Quy mô, diện tích, tình hình sản xuất của trang trại.
* Thu thập số liệu sơ cấp * Hiệu quả kinh tế - Tổng giá trị sản phẩm (T): T = + Trong đó: p là khối lượng từng loại sản phẩm được sản xuất/ha/năm. q là đơn giá từng loại sản phẩm trên thị trường cùng thời điểm. T là tổng giá trị sản phẩm của 1 ha đất canh tác/năm. - Thu nhập thuần túy (N): N = T – Csx h 4 Trong đó: N là thu nhập thuần túy của 1 ha đất canh tác/năm.
Csx là chi phí sản xuất của 1 ha đất canh tác/năm bao gồm cả chi phí vật chất và chi phí lao động. - Hiệu quả sử dụng vốn (Hv): Hv = T/Csx - Giá trị ngày công lao động = N/tổng số ngày công lao động/ha/năm. Chi phí: giống, phân bón, nhân công,thuốc BVTV, nước tưới tiêu. Tổng thu: sản lượng X giá bán Thu nhập: ( Thu - chi phí ) h 5 Phần 2 TRẢI NGHIỆM TỪ CƠ SỞ THỰC TẬP 2.
Giới thiệu về đất nước Nhật Bản, cơ sở thực tập và nền nông nghiệp Nhật Bản 2. Giới thiệu về đất nước Nhật Bản Hình 2.1: Bản đồ đất nước Nhật Bản Nhật Bản nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương, do bốn quần đảo độc lập hợp thành. Bốn quần đảo đó là: quần đảo Kuril (Nhật Bản gọi là quần đảo Chishima), quần đảo Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, và quần đảo Izu-Ogasawara. Vì là một đảo quốc, nên xung quanh Nhật Bản toàn là biển.
Nhật Bản không tiếp giáp quốc gia hay lãnh thổ nào trên đất liền. Tuy nhiên, bán đảo Triều Tiên và bán đảo Sakhalin (Nhật Bản gọi là Karafuto) chỉ cách các đảo chính của Nhật Bản vài chục km. Dân số: 127 triệu người (năm 2010), xếp thứ 11 trên thế giới. Thể chế: Quân chủ lập hiến và cộng hoà đại nghị.
Thủ đô: Tokyo h 6 Các thành phố lớn: thủ đô Tokyo, Nagoya, Osaka, Fukuoka, Hiroshima, Sapporo, Kyoto, Naha. GDP bình quân: Đứng thứ 2 trên thế giới. Bốn hòn đảo chính: Hokkaido, Honshu, Kyushu và Okinawa. Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lí Nhật Bản nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương, do bốn quần đảo độc lập hợp thành.
Bốn quần đảo đó là: quần đảo Kuril (Nhật Bản gọi là quần đảo Chishima), quần đảo Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, và quần đảo Izu-Ogasawara. Những quốc gia và lãnh thổ lân cận ở vùng biển Nhật Bản là Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc; ở vùng biển Đông Hải là Trung Quốc, Đài Loan; đi xa hơn về phía Nam là Philippines và quần đảo Bắc Mariana. Vì là một đảo quốc, nên xung quanh Nhật Bản toàn là biển. Nhật Bản không tiếp giáp quốc gia hay lãnh thổ nào trên đất liền.
Tuy nhiên, bán đảo Triều Tiên và bán đảo Sakhalin (Nhật Bản gọi là Karafuto) chỉ cách các đảo chính của Nhật Bản vài chục km. * Địa hình, địa mạo Có thể gọi Nhật là một Sơn quốc nghĩa là một quốc gia của núi. Dù nhỏ hơn bang California của Mỹ, 67% địa hình của Nhật là núi, chỉ có 13% địa hình là đồng bằng. Các dòng sông bắt nguồn từ những địa hình núi đó tạo ra nhiều thung lũng và làm cho địa hình biến đổi rất phong phú.
Ở các cửa sông, các đồng bằng hình cánh quạt được tạo ra nhưng trừ các đồng bằng Kanto (Quan Đông), đồng bằng Osaka, đồng bằng Nobi ra, tất cả đều là đồng bằng nhỏ. Bờ biển Nhật Bản cực kì dài, khoảng 34 nghìn km. Sự phức tạp trong việc hình thành bờ biển làm cho phong cảnh trở nên đẹp một cách hùng vĩ từ vùng này tới vùng khác * Khí hậu, thủy văn Khí hậu: Nhật Bản là quốc gia với hơn ba nghìn đảo trải dài dọc biển Thái Bình Dương của Châu Á.Các đảo chính chạy từ Bắc tới Nam bao gồm Hokkaidō, Honshū (đảo chính), Shikoku và Kyūshū. Quần đảo Ryukyu, h 7 bao gồm Okinawa, là một chuỗi các hòn đảo phía nam Kyūshū.
Cùng với nhau, nó thường được biết đến với tên gọi "Quần đảo Nhật Bản". Thủy văn: Sông Tone (kanji: 利根川, rōmaji: Tonegawa, phiên âm Hán- Việt: Lợi Căn Xuyên) là một dòng sông ở Nhật Bản, bắt nguồn từ núi Ōminakami, chảy từ phía Bắc sang phía Đông của vùng Kantō, đổ ra Thái Bình Dương ở địa phận thành phố Chōshi tỉnh Chiba, riêng phân lưu Edo của nó chảy qua Tōkyō và đổ vào vịnh Tōkyō ở địa phần thành phố Ichikawa tỉnh Chiba. Đây là sông có chiều dài hàng thứ hai và lưu vực rộng lớn hàng thứ nhất ở Nhật Bản, đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh tế của vùng thủ đô Tōkyō, nhất là thủ đô Tōkyō. Tone là một trong những sông tiêu biểu ở Nhật Bản.
Điều kiện kinh tế - xã hội * Kinh tế Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu. Tuy nhiên, nhờ công cuộc Minh Trị duy tân cũng như việc chiếm được một số thuộc địa, vào trước Thế Chiến thứ Hai, quy mô kinh tế Nhật Bản đã đạt mức tương đương với các cường quốc châu Âu. Năm 1940, tổng sản lượng kinh tế (GDP) của Nhật bản (quy đổi theo thời giá USD năm 1990) đã đạt 192 tỷ USD, so với Anh là 316 tỷ USD, Pháp là 164 tỷ USD, Italy là 147 tỷ USD, Đức là 387 tỷ USD, Liên Xô là 417 tỷ USD.