LỜI MỞ ĐẦU 1. Lí do lựa chọn nghiên cứu Phú Thọ nằm ở khu vực miền núi, trung du phía Bắc. Có dân số năm 2020 của Phú Thọ là 1,42 triệu người và có xu hướng tăng đều qua các năm. Việc tăng dân số làm lượng rác của nơi đây cũng tăng lên hàng năm, với lượng rác như vậy và việc xử lý lạc hậu không đạt hiệu suất cao (cụ thê trong chương II) làm ô nhiễm môi trường và nhận được nhiều bức xúc của người dân với lượng rác sinh hoạt ước tính một là 700 tan/ngay.
Vì vậy, rất cần thiết thay đổi và đầu tư công nghệ mới phù hợp với hiện trạng.1 Dân số của tỉnh Phú Thọ qua các năm (2013-2020) Dự án Đầu tư xây dựng nhà máy đốt rác phát điện của công ty TNHH môi trường TianYu Phú Tho với công suất đốt 1000 tan rác cụ thé 500 tan rác với giai đoạn 1 và 500 tan rác trong giai đoạn 2 sẽ là phương pháp được lựa chon mới dé thay thế những phương pháp cũ trước đây. Dự án sẽ giải quyết lượng rác thải nêu trên băng những công nghệ hiện đại của nhà máy và sản sinh ra điện tiêu thụ, dự án không những giải quyết vấn đề nan giải về rác thải mà còn tại ra công ăn việc làm cho người dân, góp phần làm tăng ngân sách cho nhà nước qua thuế TNDN, làm tăng kinh tế của tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên qua việc xử lý được lượng rác thải trên của dự án cũng mang lại những ảnh hưởng đến môi trường và sự thay đổi về cách xử lý rác thải mà tỉnh vẫn đang dùng vì vậy việc đánh giá hiệu quả môi trường của nhà máy là cần thiết. Đề tài “Phân tích hiệu quả môi trường của nhà máy đốt rác phát điện Trạm Thản, Phù Ninh, Phú Thọ” được em lựa chọn để phân tích hiệu quả về mặt môi trường, cái được và mat khi xây dựng nhà máy với đặc điểm như vậy đối với tinh Phú Thọ.
Mục tiêu nghiên cứu - Mục tiêu tổng thể: Xác định được hiệu quả môi trường của nhà máy sau khi đi vào hoạt động. - Mục tiêu cụ thể: + Xác định được nhu cầu ở hiện tại và tương lai và thực trạng đáp ứng, phương thức mà địa phương đang dùng trong vấn đề xử lý rác thải và liệu biện pháp xử lý rác thải liệu có đủ hoặc quá cũ hoặc quá lỗi thời để xử lý rác của toàn tỉnh Phú Thọ hay không. + Đánh giá về công suất nhà máy xem liệu có phù hợp với nhu cau và thực trạng vừa xác định hay không. + Dựa vào quy trình từ thu gom rác, phân loại rác, xử lý rác, phát điện và đưa ra các biện pháp đề khắc phục những điểm không tốt cho môi trường.
+ So sánh nhưng mặt tốt và những mặt xấu vừa nếu trên sau khi đã dùng các biện pháp đề xuất dé xem một nhà máy với những đặc điểm như vậy có mang lại hiệu quả về môi trường ở tỉnh hay không. Phương pháp nghiên cứu 1. Tông quan tài liệu Tổng quan tài liệu là công việc đầu tiên nhưng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với bất kì nghiên cứu nao. Đó là quá trình tìm kiếm, thu thập, khái quát và tong hợp thông tin về khung lý thuyết, kết quả nghiên cứu được công bố.
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu Dữ liệu sơ cấp từ phiếu điều tra được làm sạch, tổng hợp và mã hóa thành cơ sở đữ liệu cho nghiên cứu. Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm minh họa cho đặc điểm của mẫu điều tra và nhận thức của người dân về mô hình QLRCD. Đồng thời tiễn hành phân tích thống kê so sánh dé phân tích sự khác biệt giữa mức độ tham gia của người dân tại hai xã. Phần mềm Excel và SPSS được sử dụng dé thực hiện các phân tích thống kê trên.
CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUAN LY CTR VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUÁ MOI TRUONG CUA DỰ ÁN 1. Cé sở lý luận về quan ly CTR 1. Khái niệm Quản lý chất thải rắn bao gồm những công việc như thu gom CTR, vận chuyển chất thâ CTR và xử lý CTR. Quản lý CTR là công việc có liên quan tới những vật chất mà con người thải ra, và quản lý là công việc phải làm sao để giảm đi tối thiểu những tác động mà các vật chật này tác động đến con người và môi trường xung quanh.
Các phương pháp xử lý chất thải rắn mà địa điểm nghiên cứu cử dụng 1. Phương pháp xử dụng bãi chôn lắp a. Khái niệm Bãi chôn lấp (landfills) là một diện tích hoặc một khu đất được quy hoạch, lựa chọn, thiết kế, xây dựng dé chôn lắp CTR nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con người. Bãi chôn lắp bao gồm: ô chôn lắp CTR, vùng đệm và các công trình phụ trợ khác như: trạm xử lý nước thải, khí thải.
Ô chôn lắp CTR (cell): là thể tích CTR được đồ vào trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một ngày. Vung đệm (surrounding area): là khu vực ở gần bãi chôn lấp nhằm làm bớt đi tác động của BCL đến môi trường xung quanh. Phân loại Theo cấu trúc, BCL được chia thành 2 loại: - BCL hở (open dumps): là BCL được sử dụng nhiều quốc gia đang phát triển: + Nhược điểm: Tạo cảnh quan xấu, tạo điều kiện cho các động vật, côn trùng phát triển trong BCL, phát sinh nước rỉ rác gây 6 nhiễm nguồn nước ngầm hoặc nước mặt, gây ô nhiễm không khí. + BCL có chỉ phí thấp nhất; nhưng đòi hỏi quỹ đất lớn, gây ô nhiễm môi trường tram trọng.
- BCL hợp vệ sinh (sanitary landfills): là khu vực được thiết kế dé đồ bỏ: + CTR sao cho mức độ độc hại đến môi trường là nhỏ nhất. BCL hợp vệ sinh (sanitary landfills): là khu vực được thiết kế dé đỗ bỏ CTR sao cho mức độ độc hại đến môi trường là nhỏ nhất. + Ưu điểm của BCL hợp vệ sinh: Ở những nơi có đất trồng, chôn lap hợp vệ sinh là phương pháp xử lý CTR kinh tế nhất, chi phí đầu tư và chi phí hoạt động thấp hơn so với các phương pháp xử lý khác (ủ, làm phân compost), do bi nén chat và phủ đất cho nên hạn chế côn trùng phát triển, giảm thiểu được ô nhiễm không khí (mùi từ bãi chôn lấp), giảm ô nhiễm nước ngầm và nước mặt, linh hoạt khi sử lượng rác thải gia tăng, sau khi hết thời gian sử dụng, có thể dùng BCL cho các mục đích khác (sân chơi, công viên) + Nhược điểm của BCL hợp vệ sinh: Doi hỏi quỹ đất xây dựng BCL lớn, nếu không được xây dựng và quản lý tốt BCL gây ra những tác động xấu đến môi trường (ô nhiễm nước, đất, không khí). Phương pháp sử dụng công nghệ đốt rác a.
Khái niệm Phương pháp xử lý CTR sinh hoạt được ưa chuộng nhất hiện nay chính là phương pháp đốt rác, phương pháp này còn được sử dụng phổ biến dé xử lý chat thai rắn nguy hại hay ví dụ như là chất thải rắn y tế. Đối với phương pháp đốt rác, xử lý khí thải phát sinh ra từ quá trình đốt vẫn còn là một vấn đề cần quan tâm đặc biệt. Rat nhiều phương pháp được lựa chọn dé xử lý khí thải phát sinh từ quá trình đốt rác tùy thuộc vào công nghệ đốt, thành phần của khí phát thải chúng ta có thể dùng phương pháp hóa lý, phương pháp hóa học, phương pháp cơ hoc,. Thiêu đốt chất thải rắn là giai đoạn xử lý cuối cùng được áp dụng cho một số loại chất thải nhất định không thé xử lý bằng các biện pháp khác.
Sau khi đốt rác chuyên thành các thành phan không cháy và thành khí. Phần không cháy có thé được chôn lap hoặc tái sử dụng vào sản xuất các nguyên vật liệu xây dựng và phan khí cần được xử lý trước khi thải ra môi trường. Ưu điểm Chi phí nhỏ: khi đem so sánh với các loại phương pháp xử lý chat thải khác, phương pháp đốt rác thải có chi phí ít hơn rất nhiều, ở các phương pháp khác phải chỉ rất nhiều tiền cho việc thu gom và tái chế thì lại rất tốn tiền bạc và thời gian. Hện nay có rất nhiều các công nghệ đốt tiên tiến, các công này sử dụng ít nhiên liệu đốt và các điều kiện trong khi đốt vẫn được giữ nguyên như nhiệt độ làm cho khi nạp rác vào, rác vẫn liên tục cháy.
Phương pháp đốt rác có nguyên lý cơ bản không phức tập, chúng đều có một đầu cho rác vào và một đầu xả tro ra, rác được đốt đốt diễn ra hầu như tự động hoàn toàn. Chỉ có quá trình cho rác vào và quá trình xử lý tro sau khi đốt là cần sự tiếp xúc của con người vì thế còn hạn chế tối đa các tác hại đến con người trong khi đốt rác thải. Các lò đốt có hầu như cấu tạo rất đơn giản và có thể linh hoạt với nhiều nhu cầu công suất khác nhau tùy thuộc vào nhu cau xử lý rác thải của nơi thi công thiết bị. Hơn nữa, lò đốt có thê được thi công ngay gần các nơi tập trung rác của người dân dé tiết kiệm chi phí vận chuyên, vì lí do này nên việc lựa chọn nơi thi công xây dựng lò đốt cũng khác đơn giản.
Tro thải sau khi đốt rác có thé được tái sử dụng lại dé làm làm phân bón hoặc gạch xây nhà nên rác thải có thể được xử lý triệt để sau khi đốt xong, không phát sinh ra các phát thải cuối quá trình đốt. Nhược điểm Mặc dù chi phí vận hành rẻ hơn các phương pháp khác nhưng đốt rác lại cần nguồn lực đầu tư ban đầu lớn cho các thiết bị đốt và hệ thống vận hành cao, cho nên phương pháp nên được dùng trong lâu dài, nếu sử dụng trong ngắn hạn thì không có hiệu quả về mặt kinh tế. Phương pháp đốt rác không yêu cầu cao về số lượng người khi vận hành nhưng những người tham gia vào quá trình vận hành lò đốt rác cần được đảo tạo bài bản và phải thành thạo kỹ thuật cao. Có những lò đốt đạt đủ tiêu chuẩn về khí thải ở đầu ra, có lò đốt thì ngược lại nhưng xét chung mọi lò đốt hiện nay vận chưa thé xử lý triệt dé được khí thải ở đầu ra làm cho không đảm bảo về tiêu chuẩn bảo vệ môi trường.