Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan lý thuyết về chi trả dịch vụ môi trường 1. Các khái niệm về chi trả dịch vụ môi trường Mặc dù sự quan tâm về chi trả DVMT ngày càng tăng nên những định nghĩa về chi trả DVMT hiện nay chưa hoàn thiện và còn nhiều tranh cãi giữa các nhà khoa học trên thế giới.
Dựa trên những cách tiếp cận khác nhau các nhà khoa học trên thế giới đã đưa ra những khái niệm về chi trả DVMT phù hợp với quan điểm của mình. Một số các khái niệm về chi trả DVMT nổi bật được nhiều người biết tới và ủng hộ gồm: 1. Định nghĩa của Wunder Wunder (2005) đã định nghĩa chi trả DVMT là một quá trình thực hiện tự nguyện ở những khu vực mà một DVMT được xác định rõ (hoặc một loại hình sử dụng đất bảo đảm cho các DVMT) được tiến hành mua bởi một bên mua dịch vụ (tối thiểu là một người) từ một bên bán dịch vụ (tối thiểu là một người) nếu như bên cung ứng DVMT bảo đảm việc cung cấp các DVMT”. Từ định nghĩa này chúng ta có thể thấy được các nội dung cơ bản của chi trả DVMT gồm: Có giao dịch tự nguyện được diễn ra; Xác định rõ một loại DVMT (hoặc một loại hình sử dụng đất tạo ra các DVMT); Có hoạt động mua DVMT từ một bên sử dụng dịch vụ (ít nhất một/một vài người); Có một bên cung ứng (bán) DVMT (ít nhất có một/một vài người); Có điều kiện bảo đảm khả năng cung cấp các DVMT của bên cung ứng.
Định nghĩa của Wunder sau này được Pagiola và Platais (2007) giải thích một cách rõ ràng thông qua ví dụ được trình bày trong hình 1. Theo đó những người quản lý hệ sinh thái (HST) có thể là người dân, các chủ rừng hoặc các cơ quan quản lý rừng. Họ có thể thu được nhiều lợi ích thông qua các hoạt động sử dụng đất bao gồm hoạt động bảo vệ rừng. Tuy nhiên, lợi ích thu được từ hoạt động bảo vệ rừng thường nhỏ hơn lợi ích có thể thu được từ các hoạt động sử dụng đất khác ví dụ như là chuyển đổi đất rừng sang đất chăn nuôi gia súc.
Do đó, các chủ rừng thường có xu hướng phá rừng để chuyển sang các hoạt động sử dụng đất khác nhằm thu được lợi nhuận cao hơn. Nhưng việc làm này lại gây ra những tổn thất cho xã hội, cụ thể ở đây là những người dân sống ở dưới hạ nguồn do một số DVMT như các dịch vụ về nước (cung cấp nước, lọc nước), bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) hoặc xa hơn là hấp thụ cacbon sẽ bị mất đi do rừng bị phá. Các tổn thất xã hội này thường lớn hơn nhiều so với lợi ích mà các chủ rừng nhận thêm được từ hoạt động chuyển đổi 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sử dụng đất. Vì vậy, có thể huy động kinh phí của những người dân dưới hạ nguồn (hoặc xã hội) để trả cho những người chủ rừng nhằm khuyến khích, động viên họ tiếp tục bảo vệ rừng và không thực hiện các hoạt động chuyển đổi sử dụng đất.
Chuyển đổi Bảo vệ rừng Bảo vệ rừng sang đất chăn với các chi trả nuôi dịch vụ Các chi trả Lợi ích cho những người Chi trả quản lý hệ sinh tối thiểu thái Giảm các Chi trả các Chi phí cho dịch vụ nước người dân dưới dịch vụ hạ nguồn và Mất ĐDSH Chi trả những người tối đa khác Phát thải Cacbon Hình 1. Nguyên lý của chi trả dịch vụ môi trường Nguồn: Pagiola và Platais, 2007 Định nghĩa của Wunder (2005) và những ủng hộ của các nhà khoa học với định nghĩa này được xếp vào cách tiếp cận “Kinh tế môi trường” dựa trên các lý luận chủ yếu của học thuyết Coase (1960). Định nghĩa của Muradian và cộng sự Theo quan điểm của những nhà khoa học tiếp cận theo quan điểm “Kinh tế tài nguyên” mà tiêu biểu là Muradian thì định nghĩa của Wunder (2005) bị hạn chế, nó chỉ xác định đúng các chi trả DVMT trong một số trường hợp, nhiều trường hợp trong thực tế lại không phù hợp với định nghĩa này (Muradian et al. Dựa trên những phê phán về định nghĩa của Wunder, Muradian và cộng sự (2010) đã đưa ra định nghĩa về chi trả DVMT là “việc chuyển nhượng tài nguyên giữa các nhân tố xã hội nhằm tạo ra những hỗ trợ trực tiếp cho các quyết định sử dụng đất của cá nhân và tập thể cùng với các lợi ích xã hội trong quản lý tài nguyên”.
Định nghĩa này của Muradian và cộng sự được dựa trên ba tiêu chuẩn cơ bản của việc xác định các cơ chế chi trả DVMT. Tiêu chuẩn 1: Tầm quan trọng của các khuyến khích kinh tế Tiêu chuẩn này liên quan tới những hoạt động hỗ trợ kinh tế thực tế đối với các DVMT. Trong nhiều trường hợp các hỗ trợ kinh tế không đóng vai trò là yếu tố 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu tiên và quyết định trong việc cung ứng các DVMT. Bởi thông qua các yếu tố nội tại các DVMT có thể được cung ứng mà không cần đến cơ chế chi trả DVMT (Muradian et al.
Ví dụ, một cộng đồng dân cư vẫn tiến hành hoạt động bảo vệ rừng đầu nguồn của họ kể cả khi họ không nhận được tiền hỗ trợ từ những người dân ở khu vực dưới hạ nguồn do rừng đầu nguồn có ý nghĩa về mặt văn hóa, tâm linh hoặc các lợi ích khác gắn liền với cộng đồng. Tiêu chuẩn 2: Sự giao dịch trực tiếp Tiêu chuẩn này liên quan đến những người cung ứng DVMT và những người sử dụng hoặc hưởng lợi từ các DVMT. Theo nguyên tắc quá trình giao dịch sẽ được tiến hành trực tiếp giữa người cung cấp DVMT và người mua DVMT (theo đúng định nghĩa của Wunder năm 2005). Tuy nhiên, trong trường hợp khó xác định những người sử dụng hoặc hưởng lợi (trường hợp DVMT là hàng hóa công cộng) thì các giao dịch rất khó diễn ra.
Trên thực tế, hầu hết các giao dịch được thực hiện một cách gián tiếp khi Nhà nước đứng ra làm bên trung gian mua các DVMT. Cụ thể, Nhà nước sẽ tiến hành thu tiền (sử dụng hệ thống thuế, phí) của những người sử dụng hoặc hượng lợi từ DVMT sau đó sẽ tiến hành phân phối lại số tiền thu được cho những người cung ứng các DVMT. Trường hợp này việc chi trả cho những người cung ứng DVMT giống như việc Nhà nước đầu tư vào các loại hàng hóa công cộng (Muradian et al. Tiêu chuẩn 3: Mức độ cung ứng DVMT Tiêu chuẩn này liên quan tới quy mô và tính minh bạch của cơ chế chi trả DVMT.
Chúng được đánh giá và xác định thông qua việc đo đạc chất lượng của các DVMT. Trong nhiều trường hợp quy mô chi trả được xác định rất rõ ràng ví dụ như tấn các bon – tích lũy/diện tích rừng nhưng trong nhiều trường hợp điều này lại không được xác định rõ ràng (Muradian et al. Định nghĩa của Luca Tacconi Nếu như định nghĩa của Wunder (2005) đại diện cho cách tiếp cận “Kinh tế môi trường”, định nghĩa của Muradian và cộng sự (2010) đại diện cho cách tiếp cận “Kinh tế tài nguyên” thì định nghĩa của Luca Tacconi (2012) là sự tổng hòa của hai định nghĩa trên. Theo đó chi trả DVMT là “một hệ thống minh bạch cho việc cung cấp thêm của các DVMT trong điều kiện chi trả tự nguyện cho những người cung ứng DVMT”.
Định nghĩa trên rộng hơn so với định nghĩa của Wunder (2005) vì nó bao hàm cả các giao dịch gián tiếp (trường hợp Nhà nước hoặc một bên trung gian khác tham 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gia vào cơ chế chi trả DVMT). Định nghĩa này cũng bao hàm đầy đủ 3 tiêu chuẩn xác định DVMT được đưa ra theo định nghĩa của Muradian và cộng sự (2010). Định nghĩa này đề cập tới chi trả DVMT ở ba cấp độ: cấp độ quốc tế (các chi trả cho môi trường theo cơ chế REDD+), quy mô quốc gia, địa phương (các chi trả có sự tham gia của Nhà nước/cơ quan nhà nước với vai trò người mua DVMT), cấp độ cá nhân (các giao dịch tự nguyện một cách trực tiếp giữa các cá nhân mua và bán DVMT theo học thuyết Coase). Các loại dịch vụ môi trường và chương trình chi trả dịch vụ môi trường 1.
Các loại dịch vụ môi trường Tổ chức đánh giá HST thiên niên kỷ đã định nghĩa “DVMT (hay còn gọi là các dịch vụ HST) là những lợi mà con người thu được từ các HST” (MA, 2003; 2005). Trong khi đó Costazan và cộng sự (1997) đã định nghĩa DVMT là những hàng hóa (Ví dụ như các nguyên vật liệu thô) và các dịch vụ (Ví dụ chu trình dinh dưỡng) mà con người có thể thu được từ các HST. Các DVMT được phân chia thành nhiều loại khác nhau nhưng nhìn chung có thể được tập hợp thành bốn nhóm chính như trong bảng 1. Các loại dịch vụ môi trường chính TT Nhóm dịch vụ Loại dịch vụ cụ thể Lương thực, thực phẩm Dược liệu 1 Cung cấp Nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất Nhiên liệu, vật liệu xây dựng Chất hữu cơ Điều hòa khí hậu Điều tiết lũ lụt, giảm nhẹ thiên tai Điều tiết dịch bệnh 2 Điều tiết Phân hủy chất thải Lọc nước Hấp thụ/Lưu trữ cacbon Tái tạo dinh dưỡng 3 Hỗ trợ Kiến tạo đất Sản xuất cơ bản Thẩm mĩ Tinh thần 4 Dịch vụ văn hóa và giải trí Giáo dục Giải trí Nguồn: MA, 2005 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên đối với mỗi một HST cụ thể thì khả năng cung ứng các loại DVMT là khác nhau.
Cụ thể các DVMT được cung ứng bởi HST rừng nhiệt đới được chỉ ra trong Hình 1. Theo đó có 4 nhóm các DVMT chính: các dịch thứ yếu; các dịch vụ điều tiết; các dịch vụ cung ứng; và các dịch vụ văn hóa (Verweij et al. Trong đó: Các dịch vụ hỗ trợ: là các dịch vụ tạo ra nền tảng cho tất cả các loại DVMT khác. Các dịch vụ điều tiết: là các lợi ích liên quan tới khả năng điều tiết của các quá trình trong HST rừng.
Các dịch vụ cung ứng: là các loại hàng hóa được tạo ra bởi rừng Các dịch vụ văn hóa: là những giá trị con người nhận được thông qua hoạt động giải trí, thẩm mỹ,.