ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là bộ phận không thể thay thế đƣợc của môi trƣờng sinh thái; rừng giữ vai trò cực kỳ quan trọng đối với đời sống con ngƣời. Ngoài việc cung cấp gỗ, củi và các lâm sản khác, rừng có vai trò to lớn trong việc phòng hộ, duy trì môi trƣờng sống nhƣ điều hòa kh hậu, điều tiết nguồn nƣớc, hạn chế xói mòn, rửa trôi và hạn chế bão lụt, hấp thụ các bon, duy trì và bảo tồn đa dạng sinh học các chức năng này của rừng đƣợc hiểu là các giá trị môi trƣờng rừng. Nhiều năm trƣớc đây việc xem xét vai trò và giá trị của rừng mới chỉ quan tâm đến giá trị sử dụng trực tiếp nhƣ cung cấp gỗ, củi và các lâm sản khác mà rừng tạo ra, còn giá trị gián tiếp (giá trị môi trƣờng) mà rừng tạo ra cho con ngƣời và cả xã hội chƣa đƣợc chú trọng. Hiện nay xu thế tiếp cận của thế giới đó là vai trò và giá trị của rừng phải đƣợc nhìn nhận một cách đầy đủ hơn; mối quan hệ kinh tế giữa ngƣời bảo vệ, phát triển rừng và ngƣời sử dụng các giá trị môi trƣờng rừng đƣợc thiết lập.
Điều đó có ngh a là: Ngƣời hƣởng lợi từ các dịch vụ của rừng đem lại cần có trách nhiệm phải trả tiền cho ngƣời trực tiếp tham gia bảo vệ và phát triển rừng nh m tạo ra sự công b ng, duy trì phát triển một cách bền vững nguồn tài nguyên rừng. Ở Việt Nam, ngành lâm nghiệp đã chứng kiến những thay đổi đáng kể về ch nh sách và thực tiễn liên quan đến vấn đề này. Từ mô hình quản lý rừng tập trung, với mục tiêu trọng tâm là khai thác tài nguyên, đã chuyển đổi thành mô hình lâm nghiệp xã hội hoá, tập trung vào bảo vệ môi trƣờng, phát triển xã hội và thúc đẩy các doanh nghiệp lâm nghiệp địa phƣơng. Những thay đổi này thể hiện phản ứng của ngành lâm nghiệp trƣớc suy thoái tài nguyên rừng và sự kém hiệu quả của hệ thống quản lý rừng tập trung.
Chi ph cho hoạt động bảo tồn rừng là một gánh nặng tài chính đối với Ch nh phủ. Trong những chƣơng trình 327 hoặc 661 (Trồng mới 5 triệu ha rừng), mặc dầu những kết quả về cải thiện diện t ch rừng đã đem lại lợi ch cho nhiều ngƣời dân và doanh nghiệp ở vùng thƣợng nguồn và vùng hạ nguồn, xong kinh ph cho bảo tồn và phát triển phần lớn lại là do ngân sách Nhà nƣớc gánh chịu. Nh m bảo tồn và phát triển rừng bền vững, ngày 10 tháng 4 năm 2008 Ch nh phủ đã ban hành Quyết định số: 380/QĐ-TTg về ch nh sách th điểm chi trả dịch vụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 môi trƣờng rừng (DVMTR) với mục tiêu nh m tạo cơ sở cho việc xây dựng khung pháp lý về ch nh sách chi trả DVMTR áp dụng trên phạm vi cả nƣớc theo hƣớng xác định rõ lợi ch, quyền hạn và ngh a vụ của các đối tƣợng đƣợc chi trả và phải chi trả DVMTR, thực hiện xã hội hoá nghề rừng, từng bƣớc tạo lập cơ sở kinh tế bền vững cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trƣờng và các hệ sinh thái, nâng cao chất lƣợng cung cấp các dịch vụ, đặc biệt là bảo đảm nguồn nƣớc cho sản xuất điện, nƣớc và các hoạt động kinh doanh du lịch. Sau 02 năm thực hiện và đánh giá kết quả của việc thực hiện thành công ch nh sách chi trả DVMTR ở Lâm Đồng và Sơn La, Ch nh phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về Ch nh sách chi trả DVMTR và có hiệu lực từ ngày 01/11/2011.
Nghị định này là khung pháp lý về ch nh sách chi trả DVMTR áp dụng trên phạm vi toàn quốc. Lai Châu là một tỉnh miền núi, biên giới ph a Tây Bắc của đất nƣớc, diện t ch tự nhiên 906.878,70 ha, trong đó diện t ch đất có rừng 412.236,8 ha (Rừng tự nhiên 404.198,07 ha; rừng trồng 8.047,73 ha); độ che phủ của rừng 45,5% (Nguồn: Chi cục Kiểm lâm tỉnh). Là tỉnh có điều kiện tự nhiên hết sức phức tạp và chủ yếu là núi cao, có nhiều dãy núi cao có độ cao từ khoảng từ 1200m đến 2800m, khu vực đầu nguồn xung yếu quan trọng của sông Đà - con sông có giá trị rất lớn về thủy điện, cung cấp nƣớc cho vùng đồng b ng Bắc bộ và có vị tr hết sức quan trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trƣờng. Thực hiện chi trả DVMTR đƣợc tỉnh triển khai từ năm 2012, bên cạnh một số khó khăn gặp phải, đến nay về cơ bản, ch nh sách này đã có những thành công nhất định, đặc biệt là việc thay đổi nhận thức, nâng cao trách nhiệm của các bên liên quan trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đƣợc xã hội đồng tình hƣởng ứng.
Để thấy rõ hơn những thành công và phân t ch những tác động của chƣơng trình này, nhất thiết phải có những đánh giá về mặt khoa học cũng nhƣ thực tiễn, nh m rút ra những bài học kinh nghiệm, cách làm phù hợp hơn với địa phƣơng để triển khai tốt hơn hoạt động này tại địa phƣơng. Xuất phát từ thực tiễn và lý luận trên, tôi thực hiện đề tài “Đánh giá tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Lai Châu giai đoạn 2012 - 2016”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm về chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payment for Ecosystem Services), viết tắt là PES đƣợc xem là cơ chế nh m thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch vụ sinh thái b ng cách kết nối ngƣời cung cấp dịch vụ và ngƣời sử dụng dịch vụ sinh thái.
Chi trả DVMT là một giao dịch trên cơ sở tự nguyện mà ở đó DVMT đƣợc xác định cụ thể (hoặc hoạt động sử dụng đất để đảm bảo có đƣợc dịch vụ này) đang đƣợc ngƣời mua (tối thiểu là một ngƣời mua) mua của ngƣời bán (tối thiểu là một ngƣời bán) khi và chỉ khi ngƣời cung cấp DVMT đảm bảo đƣợc việc cung cấp DVMT này (Wunder 2005, p9). Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của Hệ sinh thái rừng: thực vật, động vật, vi sinh vật, nƣớc, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên. Môi trƣờng rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con ngƣời, gọi là giá trị sử dụng của môi trƣờng rừng, gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn nƣớc, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lƣu giữ các- bon, du lịch, nơi cƣ trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác. DVMTR là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trƣờng rừng để đáp ứng nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân, bao gồm các loại dịch vụ đƣợc quy định tại khoản 2, điều 4, Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ.
Chi trả DVMTR là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng DVMTR trả tiền cho bên cung ứng DVMTR (Điều 6, Nghị định 99/ 2010/NĐ-CP của Chính phủ). Tình hình nghiên cứu chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng trên thế giới Chi trả DVMTR là một l nh vực hoàn toàn mới, trong những năm 90 của thế kỷ XX mới đƣợc các nƣớc trên thế giới quan tâm thực hiện. Với những giá trị và lợi ích bền vững của việc chi trả DVMTR đã thu hút đƣợc sự quan tâm đáng kể của nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách trên thế giới. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chi trả DVMTR đã nhanh chóng trở lên phổ biến ở một số nƣớc và đƣợc thể chế hóa b ng các văn bản pháp luật.
Hiện nay chi trả DVMTR đƣợc xem nhƣ một chiến lƣợc dựa vào thị trƣờng để quản lý tài nguyên thiên nhiên, khuyến khích và chia sẻ các lợi ích trong cộng đồng và xã hội. Các nƣớc phát triển ở Mỹ La Tinh đã áp dụng và thực hiện các mô hình chi trả DVMTR sớm nhất. Ở Châu Âu chính phủ một số nƣớc đã quan tâm đầu tƣ và thực hiện nhiêu chƣơng trình, mô hình DVMTR. Chi trả dịch vụ rừng phòng hộ đầu nguồn hiện đang đƣợc thực hiện tại các quốc gia Costa Rica, Ecuador, Bolivia, Ấn Độ, Nam Phi, Mexico và Hoa kỳ.
Trong hầu hết các trƣờng hợp này, thực hiện tối đa hóa các dịch vụ rừng phòng hộ đầu nguồn thông qua các hệ thống chi trả đều mang lại kết quả góp phần giảm nghèo. Ở Châu Úc, Australia đã lập pháp hóa quyền phát thải cacbon từ năm 1998, cho phép các nhà đầu tƣ đăng ký quyền sở hữu hấp thụ cacbon của rừng. Chi trả DVMTR cũng đã đƣợc phát triển và thực hiện th điểm ở Châu Á nhƣ Indonesia, Philippines, Trung quốc, Nepal và Việt Nam bƣớc đầu đã xây dựng đƣợc các chƣơng trình chi trả DVMTR có quy mô lớn, chi trả cho các chủ rừng để thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng nh m tăng cƣờng cung cấp các dịch vụ thủy văn, bảo tồn đa dạng sinh học, chống xói mòn, hấp thụ cacbon, tạo cảnh quan du lịch sinh thái và đã thu đƣợc một số thành công nhất định trong công cuộc bảo tôn đa dạng sinh học và xóa đói giảm nghèo cho nhân dân vùng đầu nguồn. Chi trả DVMTR đang đƣợc thử nghiệm ở một số nƣớc trên thế giới, Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng.
Từ năm 2002 Trung tâm nghiên cứu nông lâm thế giới (ICRAF) đã t ch cực giới thiệu khái niệm chi trả DVMTR (PES) vào Việt Nam. Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD) đã hỗ trợ dự án đền đáp cho ngƣời nghèo vùng cao cho các DVMTR mà họ cung cấp tại Indonesia, Philippines, Nepal là xây dựng cơ chế mới để cải thiện sinh kế và an ninh tài nguyên cho cộng đồng nghèo vùng cao ở Châu Á thông qua xây dựng các cơ chế nh m đền đáp ngƣời nghèo vùng cao về các DVMTR họ cung cấp cho các cộng đồng trong nƣớc và trên phạm vi toàn cầu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.