Tổng quan nghiên cứu

Huyện Văn Chấn là huyện miền núi nằm ở phía Tây tỉnh Yên Bái với tổng diện tích tự nhiên 120.737,2 ha, chiếm 17,54% diện tích toàn tỉnh. Địa bàn này sở hữu nguồn tài nguyên sinh thái phong phú với 67.411,48 ha đất có rừng, đưa tỷ lệ che phủ rừng đạt 55,8%. Mặc dù hệ sinh thái rừng tại đây giữ vai trò sống còn trong việc điều tiết nguồn nước cho hệ thống sông Chảy, ngòi Thia, ngòi Lao và phòng hộ đầu nguồn, nhưng trong nhiều năm, người làm rừng chưa nhận được sự đền đáp thỏa đáng từ những đối tượng hưởng lợi hạ lưu.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề bất cập trong cơ chế phân phối lợi ích sinh thái, đánh giá toàn diện việc thực thi Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP và Nghị định 156/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Mục tiêu cụ thể là lượng hóa các giá trị kinh tế, xã hội, môi trường mà chính sách mang lại; phân tích những rào cản kỹ thuật; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng gắn với phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào vùng cao.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai tại 21 xã, thị trấn thuộc các lưu vực cung ứng dịch vụ môi trường rừng trọng điểm của huyện Văn Chấn, tập trung phân tích chuỗi dữ liệu thực thi từ năm 2012 đến năm 2018. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế điều tiết dòng tiền chi trả cho 97.534,93 ha diện tích rừng cung ứng dịch vụ lũy kế. Kết quả phân tích chỉ ra rằng việc thực hiện tốt chính sách đã góp phần nâng tỷ lệ che phủ rừng toàn huyện từ 54% năm 2015 lên 56% năm 2018, đồng thời tạo nguồn thu nhập bổ sung trực tiếp cho 137.344 người dân nông thôn, chiếm 89,3% dân số toàn huyện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết dịch vụ hệ sinh thái của Wunder (2005), trong đó khẳng định chi trả dịch vụ môi trường rừng là một giao dịch có điều kiện giữa bên mua và bên bán dựa trên nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền. Khung phân tích mở rộng dựa trên mô hình kinh tế học tài nguyên của Stefano Pagiola (2007) và Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2003), xác định điểm cân bằng giữa lợi ích biên của chủ rừng thượng lưu khi giữ rừng và mức chi phí thiệt hại biên mà các đơn vị hạ lưu (nhà máy thủy điện, nhà máy nước) phải gánh chịu nếu rừng bị tàn phá.

Hệ thống khái niệm trung tâm bao gồm dịch vụ môi trường rừng, bên cung ứng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ và cơ chế ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Công thức tính toán mức chi trả dựa trên việc xác định hệ số K theo quy định tại Nghị định 156/2018/NĐ-CP. Hệ số K là tích số của 4 hệ số thành phần:

  • Hệ số K1 xác định theo trữ lượng rừng (dao động từ 0,90 đối với rừng nghèo đến 1,00 đối với rừng giàu).
  • Hệ số K2 xác định theo mục đích sử dụng rừng (0,90 cho rừng sản xuất, 0,95 cho rừng phòng hộ, 1,00 cho rừng đặc dụng).
  • Hệ số K3 điều chỉnh theo nguồn gốc rừng (0,90 cho rừng trồng, 1,00 cho rừng tự nhiên).
  • Hệ số K4 phản ánh mức độ khó khăn theo địa bàn hành chính (0,90 cho xã khu vực I, 0,95 cho xã khu vực II, 1,00 cho xã khu vực III).

Khung pháp lý tham chiếu xuyên suốt gồm Luật Lâm nghiệp năm 2017, Pháp lệnh số 38/2001/PL-UBTVQH10, Quyết định số 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các quyết định quy hoạch 3 loại rừng của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra xã hội học kết hợp khảo sát thực địa với tổng cỡ mẫu 158 phiếu điều tra chuyên sâu. Cụ thể, mẫu bao gồm:

  • 150 hộ gia đình, cá nhân là chủ rừng và bên nhận khoán bảo vệ rừng tại 7 xã đại diện (phân bổ theo 3 tiểu vùng sinh thái: vùng trong Mường Lò, vùng ngoài và vùng cao thượng huyện).
  • 05 cán bộ quản lý lâm nghiệp trực tiếp tại Hạt Kiểm lâm huyện Văn Chấn và Ủy ban nhân dân các xã.
  • 03 đại diện doanh nghiệp sử dụng dịch vụ môi trường rừng gồm các nhà máy thủy điện và cơ sở cấp nước sinh hoạt trên địa bàn.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm đảm bảo tính đại diện cao, phản ánh trung thực góc nhìn đa chiều từ cả 3 nhóm chủ thể tham gia vào chuỗi cung ứng dịch vụ.

Nghiên cứu kết hợp phương pháp kế thừa số liệu thứ cấp, phân tích thống kê mô tả, phương pháp so sánh đối chứng trước và sau khi áp dụng chính sách PFES để bóc tách rõ rệt sự thay đổi về thu nhập, tần suất vi phạm lâm luật và diễn biến tài nguyên rừng. Toàn bộ dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý thông qua phần mềm Microsoft Excel và các công cụ thống kê chuyên dụng. Timeline nghiên cứu bao quát số liệu thứ cấp giai đoạn 2012-2018 và đợt khảo sát thực tế chuyên sâu hoàn thành vào năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, chính sách PFES đã tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác quản lý và bảo vệ 59.266,06 ha diện tích rừng hiện có. Tỷ lệ đất có rừng chiếm tới 78,4% tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện, trong đó rừng tự nhiên đạt 47.607,01 ha và rừng trồng đạt 19.804,47 ha. Tỷ lệ che phủ rừng tăng trưởng đều đặn qua các năm: đạt 54% năm 2015, 55% năm 2016-2017 và chạm mốc 56% vào năm 2018. Rừng phòng hộ chiếm 16.473,62 ha, tạo điều kiện thuận lợi để người dân nhận mức chi trả cao hơn nhờ hệ số K2 ưu tiên.

Thứ hai, chính sách đã tạo lập nguồn tài chính độc lập, bền vững cho ngành lâm nghiệp địa phương. Tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp của huyện năm 2018 đạt 311.201 triệu đồng, trong đó nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng đóng góp hơn 12.000 triệu đồng. Lũy kế sau 6 năm triển khai (2012-2018), Ban chi trả dịch vụ môi trường rừng huyện Văn Chấn đã tiếp nhận và giải ngân hơn 3,1 tỷ đồng (riêng năm 2012 đã chi trả 468 triệu đồng), giảm thiểu áp lực phụ thuộc vào nguồn ngân sách nhà nước hạn hẹp.

Thứ ba, chính sách đem lại hiệu quả xã hội rõ rệt, cải thiện sinh kế cho cộng đồng dân cư sinh sống gần rừng. Với 13 dân tộc cùng chung sống, trong đó đồng bào thiểu số chiếm tỷ lệ lớn ở các xã vùng cao, nguồn tiền PFES đã hỗ trợ kinh phí trực tiếp cho các tổ tuần tra bảo vệ rừng thôn bản, mua sắm trang thiết bị phòng cháy chữa cháy rừng và đóng góp vào quỹ phát triển thôn bản. Tình trạng chặt phá rừng trái phép giảm rõ rệt, tương tự xu hướng giảm 50% số vụ vi phạm lâm luật tại các địa bàn thí điểm trọng điểm trên cả nước.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi giúp huyện Văn Chấn đạt được những kết quả khả quan là việc thành lập Ban chi trả cấp huyện theo Quyết định số 1079/QĐ-UBND ngày 24/12/2012, giao Hạt Kiểm lâm làm đầu mối thường trực. Cơ chế trích 10% kinh phí quản lý cho các đơn vị chủ rừng và phân bổ 90% trực tiếp cho các hộ nhận khoán đã tạo động lực kinh tế trực tiếp cho người dân gắn bó với rừng.

So sánh với các địa phương thí điểm ban đầu như tỉnh Lâm Đồng (mới chi trả đạt 20,23% diện tích quy hoạch) hay tỉnh Sơn La (đạt 12,9% diện tích), huyện Văn Chấn đã nỗ lực mở rộng diện tích chi trả tương đối đồng đều. Tuy nhiên, việc áp dụng hệ số K tại Văn Chấn vẫn gặp trở ngại do ranh giới rừng giữa các chủ rừng còn chồng lấn, bản đồ lưu vực chưa được số hóa đồng bộ. Địa hình bị chia cắt mạnh bởi sườn Đông Bắc dãy Hoàng Liên Sơn, cùng với việc 3 xã vùng cao (An Lương, Sùng Đô, Nậm Mười) chưa có đường ô tô đi lại thông suốt quanh năm, đã làm tăng đáng kể chi phí hành chính và kiểm tra hiện trường.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột thể hiện diễn biến tăng trưởng độ che phủ rừng giai đoạn 2015-2018 và biểu đồ tròn phân tích cơ cấu giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp năm 2018. Bên cạnh đó, một sơ đồ luân chuyển dòng tiền chi trả từ các nhà máy thủy điện qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đến các cộng đồng thôn bản sẽ minh họa rõ nét tính minh bạch và logic của chuỗi giá trị PFES tại huyện Văn Chấn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của chính sách PFES trên địa bàn huyện Văn Chấn, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Chuẩn hóa công tác đo đạc, lập bản đồ và xác định hệ số K: Giao Hạt Kiểm lâm huyện chủ trì, phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường hoàn thành việc rà soát, cắm mốc ranh giới lâm phận và số hóa bản đồ lưu vực cho 100% diện tích rừng cung ứng DVMTR trước quý IV năm 2021. Áp dụng công nghệ GIS để tính toán chính xác hệ số K cho từng lô rừng, đảm bảo nguyên tắc công bằng trong chi trả.

  2. Mở rộng và đa dạng hóa các nguồn thu dịch vụ môi trường rừng: Ủy ban nhân dân huyện Văn Chấn phối hợp với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái rà soát toàn bộ các cơ sở sử dụng nước, các doanh nghiệp chế biến khoáng sản, công nghiệp và các điểm du lịch sinh thái trên địa bàn. Phấn đấu ký kết hợp đồng ủy thác chi trả với 100% các đơn vị sử dụng nước thuộc lưu vực ngòi Thia, ngòi Lao trong giai đoạn 2021-2023 nhằm tăng quy mô quỹ thu thêm ít nhất 25% so với mức thu năm 2018.

  3. Nâng cao năng lực quản trị cộng đồng và giám sát bảo vệ rừng: Kiện toàn các tổ tuần tra bảo vệ rừng tại 194 thôn, bản; trích tối thiểu 15-20% nguồn tiền PFES nhận được của cộng đồng để tái đầu tư vào công trình dân sinh và mua sắm trang thiết bị chữa cháy rừng chuyên dụng. Mục tiêu giảm số vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp thêm 30% trên địa bàn toàn huyện trong giai đoạn 2021-2025.

  4. Tăng cường tuyên truyền và đào tạo nghề lâm nghiệp bền vững: Ủy ban nhân dân 21 xã, thị trấn phối hợp với Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp huyện tổ chức tối thiểu 20 lớp tập huấn hàng năm bằng tiếng phổ thông và tiếng dân tộc bản địa (Thái, H'Mông, Dao). Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo trong lĩnh vực lâm nghiệp từ mức 32,57% năm 2018 lên trên 45% vào năm 2025, hướng dẫn kỹ thuật nông lâm kết hợp để tăng thu nhập ngoài gỗ cho người dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp và chính quyền địa phương: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm, Ủy ban nhân dân cấp huyện tại các tỉnh miền núi phía Bắc có thể sử dụng nghiên cứu như một tài liệu tham chiếu thực tế để xây dựng phương án phân bổ kinh phí, áp dụng hệ số K và quản lý quỹ DVMTR cấp cơ sở.
  • Các doanh nghiệp và đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng: Các nhà máy thủy điện, công ty cung cấp nước sạch, tổ chức du lịch sinh thái nắm rõ cơ chế tính giá thành sản phẩm, hiểu được mối quan hệ tương hỗ giữa việc nộp phí DVMTR và lợi ích giảm thiểu bồi lắng lòng hồ, bảo đảm nguồn sinh thủy ổn định.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Các trường đại học chuyên ngành Lâm nghiệp, Kinh tế tài nguyên và Quản lý môi trường có thể khai thác mô hình lý thuyết WTP và phương pháp tiếp cận điều tra xã hội học của đề tài để phục vụ giảng dạy, nghiên cứu mở rộng.
  • Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị điều phối dự án phát triển: Các chuyên gia thiết kế dự án giảm nghèo, bảo tồn đa dạng sinh học và thích ứng với biến đổi khí hậu có thêm case study thực tiễn về việc lồng ghép công cụ tài chính vào quản trị tài nguyên rừng tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) tại huyện Văn Chấn vận hành dựa trên nguyên tắc nào? Chính sách vận hành theo nguyên tắc người hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải trả tiền cho người cung ứng dịch vụ. Các nhà máy thủy điện, cơ sở cấp nước chi trả tiền ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng để chi trả lại cho các chủ rừng, hộ nhận khoán bảo vệ 67.411,48 ha rừng trên địa bàn.

Hệ số K trong xác định mức chi trả DVMTR tại Văn Chấn gồm những yếu tố nào? Hệ số K được tính bằng tích số của 4 hệ số thành phần: K1 (trữ lượng rừng giàu, trung bình, nghèo), K2 (mục đích sử dụng: đặc dụng, phòng hộ, sản xuất), K3 (nguồn gốc: rừng tự nhiên hay rừng trồng), và K4 (mức độ khó khăn theo xã khu vực I, II, III).

Hiệu quả kinh tế nổi bật nhất của chính sách PFES tại địa phương là gì? Sau 6 năm thực hiện, huyện Văn Chấn đã tiếp nhận và giải ngân hơn 3,1 tỷ đồng tiền DVMTR. Riêng năm 2018, nguồn thu DVMTR đạt hơn 12.000 triệu đồng trong tổng số 311.201 triệu đồng giá trị sản xuất lâm nghiệp, tạo dòng tiền ổn định hỗ trợ trực tiếp cho hàng nghìn hộ gia đình vùng cao.

Những khó khăn lớn nhất trong quá trình triển khai chính sách tại Văn Chấn là gì? Rào cản lớn nhất gồm: việc xác định ranh giới và trạng thái rừng trên thực địa còn chồng lấn; cách tính hệ số K còn phức tạp; giao thông tại các xã vùng cao như An Lương, Sùng Đô còn trắc trở khiến chi phí quản lý, kiểm tra, giám sát hiện trường tăng cao.

Nghiên cứu đã khảo sát cỡ mẫu bao nhiêu để đưa ra các kết luận trên? Luận văn đã tiến hành điều tra thực tế với cỡ mẫu 158 phiếu, gồm 150 hộ gia đình chủ rừng tại 7 xã đại diện, 05 cán bộ quản lý lâm nghiệp cấp huyện, xã và 03 doanh nghiệp sử dụng dịch vụ môi trường rừng, đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy khoa học cao.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện việc thực thi chính sách PFES trên diện tích 67.411,48 ha đất có rừng tại huyện Văn Chấn, minh chứng tỷ lệ che phủ rừng tăng từ 54% năm 2015 lên 56% năm 2018.
  • Nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng đóng góp hơn 12.000 triệu đồng vào giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2018, khẳng định tính khả thi và bền vững của cơ chế người hưởng lợi phải trả tiền.
  • Công trình chỉ rõ việc phân bổ hơn 3,1 tỷ đồng lũy kế qua 6 năm đã cải thiện sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số và giảm thiểu đáng kể các vụ vi phạm lâm luật.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp khả thi gồm chuẩn hóa bản đồ địa chính lâm nghiệp, mở rộng cơ sở thu phí, kiện toàn mạng lưới giám sát cộng đồng và đào tạo nâng tỷ lệ lao động lâm nghiệp qua đào tạo lên trên 45%.
  • Đóng góp chính của đề tài là cung cấp khung đánh giá thực chứng, tạo tiền đề khoa học cho lộ trình số hóa quản lý rừng và phát triển thị trường tín chỉ carbon trong giai đoạn 2021-2025.

Các nhà quản lý chính sách, doanh nghiệp và cộng đồng nghiên cứu quan tâm đến mô hình quản trị tài nguyên rừng bền vững hãy tiếp tục đào sâu và áp dụng những phát hiện từ luận văn này vào thực tiễn địa phương ngay hôm nay.