Đặt vấn đề Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, không thể tái tạo được đối với mỗi quốc gia. Đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích, có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và những hoạt động sử dụng đất thiếu hiểu biết của con người trong quá trình sản xuất. Khi xã hội phát triển, dân số tăng nhanh, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh, kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về nhu cầu lương thực, thực phẩm cũng như nhu cầu về đất sử dụng cho các mục đích chuyên dùng. Điều này đã gây ra áp lực ngày càng lớn đối với đất sản xuất nông nghiệp, làm cho quỹ đất nông nghiệp luôn có nguy cơ bị suy giảm diện tích, trong khi khả năng khai hoang những vùng đất mới có khả năng sản xuất nông nghiệp gần như đã cạn kiệt.
Do vậy, việc nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên quan điểm sinh thái, bền vững đang ngày càng trở nên cấp thiết, quan trọng đối với mỗi quốc gia cũng như những vùng đất sản xuất nông nghiệp trong từng vùng riêng biệt để từ đó đưa ra được các giải pháp mang tính chiến lược trong sử dụng đất lâu bền. Nhãn là cây nhiệt đới và á nhiệt đới, có thể trồng được từ đường xích đạo đến Vĩ tuyến 28 - 36, nhưng chi có một số nước trồng với diện tích lớn như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Myanma, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Mỹ. Ở nước ta, nói tới nhãn, người ta chỉ nghĩ tới nhãn lồng Hưng Yên. Không nhiều người biết miền núi phía Bắc mới là "thủ phủ nhãn".
Như Sơn La, hiện tổng diện tích nhãn lên tới hơn 7.500 ha nhưng chỉ riêng huyện Sông Mã, theo thống kê tới năm 2015 đã chiếm diện tích xấp xỉ 5. c 2 Sông Mã là huyện vùng cao biên giới nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Sơn La cách trung tâm thành phố khoảng 103 km. Có diện tích đất tự nhiên là 164.616 ha, là vùng đất có truyền thống về trồng và chăm sóc nhãn từ rất lâu đời, nhờ điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đã tạo cho nhãn Sông Mã có vị ngọt sắc, vỏ mỏng, cùi dày và đặc biệt chín sớm hơn so với các vùng khác. Hiện nay, cây nhãn đang trở thành cây trồng mũi nhọn của huyện Sông Mã.
Trồng nhãn không những khai thác tốt tiềm năng vốn có về điều kiện khí hậu, đất đai của huyện mà còn góp phần trong việc xoá đói giảm nghèo, tiến tới làm giàu, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn. Đồng thời, phát triển cây nhãn góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống xói mòn, rửa trôi, bảo vệ đất và môi trường. Ngoài ra, cây nhãn còn đảm bảo yêu cầu về giải quyết lao động, thu nhập cho người dân, cung cấp hoa quả sạch cho các tỉnh lân cận và tạo lập cảnh quan môi trường sinh thái. Vì vậy, phát triển cây nhãn sẽ góp phần tích cực vào quá trình phát triển của huyện theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa với tốc độ nhanh và bền vững.
Tuy nhiên, ở một số địa phương trong vùng trồng vẫn chưa phát huy hết so với tiềm năng đất đai vốn có. Năng suất và chất lượng nhãn vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Mặt khác, phương thức sản xuất của hộ trồng nhãn còn nhỏ lẻ thủ công dựa vào kinh nghiệm là chính. Việc bón phân và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật còn chưa đúng cách và thiếu hiệu quả.
Nhiều hộ chưa biết áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất nên năng suất vẫn chưa cao chất lượng vẫn chưa được đảm bảo. Chính vì thế, cần có sự đánh giá đúng thực trạng để thấy rõ được những vấn đề còn tồn tại, từ đó đề ra các giải pháp phát triển sản xuất sao cho có hiệu quả cao nhất. Xuất phát từ thực tế trên, được sự nhất trí của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa Quản lý Tài nguyên, c 3 với sự hướng dẫn trực tiếp của ThS.Trương Thành Nam, em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất trồng cây nhãn tại huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La”. Mục tiêu của đề tài 1.
Mục tiêu tổng quát Trên cơ sở điều tra hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp, đánh giá hiệu quả sản xuất nhãn ở Sông Mã làm cơ sở đề xuất hướng cải tạo và sử dụng hợp lý hơn nguồn tài nguyên đất đai. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá hiệu quả kinh tế của loại hình sử dụng đất trồng cây nhãn; - Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế của loại hình sử dụng đất này. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá khách quan, toàn diện và trung thực hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất trồng nhãn tại Sông Mã; - Nguồn số liệu, tài liệu điều tra, thu thập được phải tin cậy, đảm bảo tính pháp lý và chính xác. Ý nghĩa của đề tài - Đánh giá được thực trạng và tình hình sản xuất nhãn tại Sông Mã; - Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo vệ đất trồng nhãn ở những vùng có tiềm năng và cho thu nhập cao của các nông hộ sản xuất nhãn trên địa bàn huyện Sông Mã.
c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Nguồn gốc của cây nhãn Theo De Candolle nguồn gốc cây nhãn ở Ấn Độ, vùng có khí hậu lục địa. Vùng Tây Ghats ở độ cao 1600 m còn có rừng nhãn dại.
Ở các bang Bengai và Assam ở độ cao 1000 m trồng nhiều nhãn. Trên thế giới Trung Quốc là nước có diện tích trồng nhãn lớn nhất và có sản lượng cao nhất. Theo Phó Giáo sư Lô Mỹ Anh, Khoa Viên nghệ trường Đại học Nông nghiệp Quảng Tây thì diện tích trồng nhãn ở Trung Quốc đạt 38 – 40 vạn mẫu (15 vạn mẫu Trung Quốc bằng 1 ha) chủ yếu ở các tỉnh duyên hải vùng Đông Nam: Phúc Kiến, Đài Loan, Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên. Ngoài ra còn trồng lẻ tẻ ở Vân Nam và Quý Châu.
Riêng Phúc Kiến năm 1977 diện tích trồng nhãn trên 11.300 ha và sản lượng năm cao nhất (1995) đạt 50. Nhãn còn được trồng ở Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Philipin. Sau thế kỷ 19, nhãn được nhập và trồng ở các nước Âu Mỹ, Châu Phi, Oxtraylia trong vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới. Thái Lan bắt đầu trồng nhãn từ năm 1896, giống nhập của Trung Quốc.
Sản lượng nhãn của Thái Lan năm 1990 đạt 123.000 tấn, chủ yếu trồng ở miền Bắc, Đông Bắc và vùng đồng bằng miền Trung, nổi tiếng nhất là các huyện Chiong Mai, Lam Phun và Prae. Ngoài tiêu thụ trong nước, Thái Lan còn xuất khẩu cho Malaysia, Singapo, Hồng Kông, Philippin và các nước EC. Chỉ riêng xuất khẩu nhãn trong 3 năm qua Thái Lan đã tăng gấp 3 lần doanh thu xuất khẩu những hoa quả khác. Ở Việt Nam nhãn được trồng từ bao giờ chưa được nghiên cứu xác định.
Cây nhãn được trồng lâu nhất ở chùa Phố Hiến thuộc xã Hồng Châu c 5 thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên cách đây chừng 300 năm. Theo Giáo sư Vũ Công Hậu (1982). “có thể miền Bắc nước ta là một trong những vùng quê hương của cây nhãn”. Hiện nay cây nhãn được trồng nhiều ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ: Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Giang.
Nhãn còn được trồng ở vùng đất phù sa ven sông Hồng, sông Thao, sông Lô, sông Mã, sông Tiến, sông Hậu và vùng gò đồi ở các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Bắc Cạn, Thái Nguyên. và lẻ tẻ ở các tỉnh miền Trung. Trong những năm gần đây, do cơ chế của thị trường và nhu cầu quả tươi tại chỗ, các tỉnh phía Nam đang phát triền mạnh cây nhãn: Cao Lãnh (Đồng Tháp), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), cù lao An Bình, Đồng Phú (Vĩnh Long). đặc biệt ở Tiền Giang diện tích nhãn tăng rất nhanh.
Nguồn gốc của cây nhãn cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng thực tế hiện nay, phần đông các nhà khoa học đều cho rằng cây nhãn có nguồn gốc từ Ấn Độ sau đó được đem đi trồng ở các nước khác [15] 2. Phân loại cây nhãn Nhãn được chia thành 2 phân loài: - Nhãn phân loài longan - Nhãn phân loài malesianus Nhãn được nhà thực vật học Leenhouts, Pieter Willem (trong Blumea; Tijdschrift voor de Systematiek en de Geografie der Planten (A Journal of Plant Taxonomy and Plant Geography), 1971) phân ra các thứ sau: - Nhãn thứ echinatus - Nhãn thứ longetiolatus - Nhãn thứ malesianus - Nhãn thứ obtusus [17] Ngày nay nhờ sự phát triển của khoa học công nghệ đã lai tạo ra nhiều loại nhãn mới cho năng suất và chất lượng tốt, nhưng ở nước ta vẫn chủ yếu trồng 9 loại nhãn sau: c 6 - Nhãn lồng: Quả tròn, to gần như quả vải thiều. Trọng lượng quả trung bình 12 - 17g, cùi dày vân hanh vàng, các múi lồng vào nhau rất rõ, trên mặt cùi nhãn có nhiều đường gân nổi xếp chằng chịt có cái như vảy rồng. Hạt màu đen, trọng lượng khoảng 2g.
Quả ăn giòn và ngọt, thơm mát. Vỏ quả dày, giòn dễ tách, chín sớm. Phần ăn được chiếm 63,25% trọng lượng quả. - Nhãn cùi: Quả hình cầu hơi dẹt, vỏ không sáng mã mầu vàng nâu.
Quả to, trọng lượng trung bình 10 - 15g. Cùi dày thường khô (ráo nước), màu cùi trong hoặc hơi đục. Trọng lượng hạt khoảng 2g, màu đen. Phần ăn được chiếm khoảng 60% trọng lượng quả.
- Nhãn bàm bàm: Quả to gần bằng quả nhãn lồng. Trọng lượng trung bình của quả 12 - 15g. Trôn quả hơi vẹo, vai quả gồ ghề, cùi dày, khô, ăn có vị ngọt nhạt. - Nhãn đường phèn: Quả nhỏ hơn nhãn lồng.
Trọng lượng trung bình 7 - 12g. Vỏ mầu nâu nhạt, cùi tương đối dày, đậm nước, bóc vỏ trên mặt cùi quả có các u nhỏ như cục đường phèn. Ăn ngọt sắc thơm đặc biệt. Hạt bé, đen nhánh, trung bình nặng 1,5g.
Nhãn đường phèn ra hoa muộn hơn nhãn cùi. Chín chậm hơn nhãn cùi 10 - 15 ngày. Phần ăn được chiếm 60,24% trọng lượng quả. - Nhãn nước: Cây thường sai quả, quả nhỏ, trọng lượng trung bình 6 - 9g.
Cùi mỏng, nhão, nhiều nước, độ ngọt vừa phải, cùi khó dóc khỏi hạt. Chùm có nhiều quả, năng suất tương đối ổn định, về chất lượng ăn tươi kém nhãn cùi. Phần ăn được chiếm 38,63% trọng lượng quả. - Nhãn thóc: Quả nhỏ, trên chùm nhiều quả.
Trọng lượng trung bình 5 - 7g, cùi mỏng khó tách khỏi hạt, nhiều nước, hạt to, độ ngọt vừa phải.