MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Nông nghiệp là một ngành có ý nghĩa quan trọng đối với nước ta khi có tới hơn 70% dân cư sống dựa vào nông nghiệp, không những thế nông nghiệp còn cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống của nhân dân và nông nghiệp cũng có những bước phát triển rõ rệt trong những năm gần đây. Với một nước đi lên từ nền nông nghiệp nghèo nàn, luôn trong tình trạng thiếu lương thực, nước ta đã trở thành một nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về lúa gạo. Để có được thành quả này chính là nhờ chủ trương của Đảng, Nhà nước và khả năng ứng dụng, tìm kiếm kĩ thuật, mô hình sản xuất mới của người nông dân trên khắp cả nước. Người dân Việt Nam không ngừng tiếp thu và ứng dụng các loại cây trồng, vật nuôi mới.
Họ đã thử nghiệm và chấp nhận các loại giống mới có hiệu quả kinh tế cao, đối với ngành lúa gạo Việt Nam việc đưa nguồn giống mới vào sản xuất đã giúp cho người nông dân tự tin hơn với sản phẩm của mình trên con đường xuất khẩu lúa gạo trên thế giới. Xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên là một xã đông dân cư, tương đối phát triển về kinh tế hơn nữa xã có diện tích đất nông nghiệp khá lớn, lại có hệ thống sông ngòi chảy qua, là điều kiện rất thuận lợi để canh tác lúa nước. Với điều kiện thuận lợi như vậy, nhưng người dân địa phương vẫn còn chăn trở trong việc chọn giống lúa thích hợp để đưa vào sản xuất. Đó là làm sao chọn được loại giống phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng, kháng sâu bệnh tốt lại cho hiệu quả kinh tế cao.
Trong các nhóm giống mà người dân đang canh tác, GS9 là giống lúa lai ba dòng hiện đang được sản xuất khá phổ biến ở vùng này bởi năng suất và hiệu quả kinh tế của giống lúa lai ba dòng GS9 hơn hẳn các loại giống lúa khác. Với mong muốn đánh giá hiệu quả kinh tế của giống lúa lai ba dòng GS9 tại xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, tôi đã lựa chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế của giống lúa GS9 tại xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”. Để thấy được sự ảnh hưởng của giống lúa lai ba dòng GS9 đến quá trình sản xuất Nông nghiệp của xã 2 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.
Mục tiêu chung Tìm hiểu đặc điểm, thực trạng về giống lúa lai ba dòng GS9 của các hộ gia đình tiêu biểu của địa phương. Từ đó đánh giá được hiệu quả kinh tế của giống lúa đó và đưa ra hướng phát triển cho giống lúa này. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu các hộ gia đình gieo trồng lúa lai ba dòng GS9 tại xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. - Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất, các yếu tố thuận lợi, khó khăn khi canh tác giống lúa lai ba dòng GS9.
- Phân tích các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế khi so sánh giữa giống lúa lai ba dòng GS9 và giống lúa khác như Khang Dân, CT18, Quy Tê… để thấy được hiệu quả của việc sử dụng giống lúa lai ba dòng GS9. - Khuyến cáo người dân sử dụng giống lúa lai ba dòng GS9 với quy mô rộng lớn. - Đưa ra những giải pháp khắc phục những tồn tại và phương hướng phát triển chung. Ý nghĩa của đề tài 3.
Ý nghĩa trong học tập - Củng cố kiến thứ cần thiết về sản xuất nói chung cũng như những kiến thức thực tiễn ở lĩnh vực nông nghiệp. - Đánh giá về điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương nghiên cứu. - Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra nhiều kinh nghiệm thực tế cho công tác sau này. - Vận dụng và phát huy được kiến thức đã học vào trong thực tiễn.
Ý nghĩa thực tiễn Làm cơ sở cho công tác đánh giá, quy hoạch, lập kế hoạch, nhân rộng và phát triển loại giống lúa mới để có hiệu quả kinh tế cao cho địa phương. 3 Phần 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài * Kinh tế hộ: Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn. Theo Ellis - 1988 thì "hộ nông dân là các nông hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao.
* Đặc điểm kinh tế hộ: Là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng. Hộ nông dân là đơn vị sản xuất nhưng với quy mô nhỏ, họ cũng có đầy đủ các yếu tố, các tư liệu phục vụ sản xuất. Đó là các nguồn lực sẵn có của nông hộ như: lao động, đất đai, vốn, kỹ thuật, công cụ… Từ các yếu tố sản xuất đó nông hộ sẽ tạo ra các sản phẩm cung cấp cho gia đình và xã hội. Do sản xuất với quy mô nhỏ nên số lượng hàng hóa tạo ra của từng hộ là không lớn.
Tư liệu sản xuất không đầy đủ nên chất lượng của sản phẩm làm ra cũng chưa cao. Hộ nông dân là đơn vị tiêu dùng. Các sản phẩm tạo ra nhằm đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng của gia đình họ là chính, nếu còn dư họ sẽ cung cấp ra thị trường bằng cách trao đổi hoặc buôn bán. Cũng có một số nông hộ chuyên sản xuất để cung cấp ra thị trường.
Hoạt động sản xuất chính của các nông hộ là trồng trọt và chăn nuôi. Trước kia, hầu hết các nông hộ đều sản xuất để cung cấp cho nhu cầu của gia đình họ. Đó là đặc tính tự cung tự cấp của các hộ nông dân. Nhưng trong quá trình phát triển của đất nước, các hộ nông dân cũng đã có những bước đổi mới khá quan trọng.
Họ đã tiến hành sản xuất chuyên canh để cung cấp sản phẩm cho xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là họ phải hoàn thiện tư liệu sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế. 4 Do đa số các hộ nông dân đều thiếu tư liệu sản xuất: thiếu đất đai, kỹ thuật. nên họ thường đầu tư sản xuất thấp, họ luôn tránh rủi ro.
Cũng vì vậy nên hiệu quả kinh tế mang lại của nông hộ thường không cao. Chỉ có một số nông hộ mạnh dạn đầu tư với quy mô lớn, năng suất lao động cao nên thu nhập của họ cũng khá cao nhưng mức độ rủi ro cũng khá lớn. Đa số các nông hộ đều chọn cho mình cách sản xuất khá an toàn đó là họ luôn trồng nhiều loại cây khác nhau trong cùng một thời kỳ hoặc chăn nuôi nhiều vật nuôi một lúc. Điều này làm cho sản phẩm của họ luôn đa dạng nhưng số lượng thì không nhiều.
Điều đó đồng nghĩa với việc họ tránh được rủi ro, nếu giá cả hàng hóa này giảm xuống thấp thì còn có hàng hóa khác. Nhưng cách sản xuất này không mang lại hiệu quả cao cho nông hộ. * Vai trò kinh tế hộ: Tuy các hộ nông dân còn sản xuất một cách nhỏ lẻ, quy mô không lớn, năng suất chưa cao, hiệu quả kinh tế chưa cao. nhưng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của kinh tế hộ trong sản xuất nông nghiệp.
Các hộ nông dân đã sử dụng những điều kiện sẵn có để sản xuất, ổn định cuộc sống. Điều đó cũng giải quyết được một số lượng lớn lao động nhàn rỗi trong xã hội. Ngoài việc tạo ra các thành phẩm phục vụ cho nhu cầu của gia đình và xã hội, kinh tế hộ nông dân còn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguyên liệu, hàng hóa, dịch vụ, là cầu nối hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất lớn đến với người tiêu dùng. Vì mô hình kinh tế hộ có quy mô sản xuất nhỏ, vốn đầu tư không lớn, công tác quản lý khá dễ dàng so với các loại hình sản xuất khác nên kinh tế hộ thường được chọn làm điểm khởi đầu.
Mô hình kinh tế hộ rất phù hợp với những nông hộ có ít vốn, chưa có nhiều kinh nghiệm sản xuất, tư liệu sản xuất còn hạn chế. Nó cũng là tiền đề cho sự phát triển các loại hình sản xuất khác [5]. Hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế (HQKT) trong Nông nghiệp: là tổng hợp các hao phí về lao động và lao động vật chất hóa để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp. Nó thể hiện bằng cách so sánh kết quả sản xuất đạt được với khối lượng chi phí lao động và chi phí vật chất bỏ ra.
Lúc đó ta phải tình đến việc sử dụng đất đai và nguồn dự trữ vật 5 chất, lao động, hay nguồn tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp (vốn sản xuất, vốn lao động, vốn đất đai). Nghĩa là tiết kiệm tối đa các chi phí mà thực chất là hao phí lao động để tạo ra một đơn vị sản phẩm. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của quá trình sản xuất. Nó được xác định bằng so sánh kết quả với chi phí bỏ ra.
Hiệu quả xã hội: Là kết quả của các hoạt động kinh tế xét trên khía cạnh công ích, phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội như tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, giảm tệ nạn xã hội. Hiệu quả môi trường: Thể hiện bảo vệ tốt hơn môi trường như tăng độ che phủ mặt đất, giảm ô nhiễm đất, nước, không khí. Trong các loại hiệu quả thì hiệu quả kinh tế là quan trọng nhất, nhưng không thể bỏ qua hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Vì vậy khi nói tới hiệu quả kinh tế người ta thường có ý bao hàm cả hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường [4].
Cơ sở thực tiễn 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên Thế giới năm 2014 Trong tháng hai, giá cả Thế giới có giảm nhỏ hơn so với tháng trước đó. Gía gạo sau đó có xu thế ổn định dựa trên các nguồn tin từ các nước nhập và xuất khẩu gạo. Ấn Độ tiếp tục chi phối giá gạo trên thị trường thế giới bằng cách đưa ra thị trường với giá thấp nhất.
Các nước xuất khẩu gạo truyền thống đang phải cạnh tranh thương mại quyết liệt với Ấn Độ, đặc biệt là ở thị trường Châu Phi cận Sahara và các Trung Đông.