phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Khái quát chung về phƣơng pháp xác định hiệu quả kinh tế của du lịch và mô hình khảo sát du khách Chƣơng 2: Ứng dụng TSA để xác định hiệu quả kinh tế của ngành du lịch Việt Nam năm 2005 Chƣơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHƢƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA DU LỊCH VÀ MÔ HÌNH KHẢO SÁT DU KHÁCH 1. Hiệu quả kinh tế 1. Khái niệm Theo quan điểm kinh tế học, “hiệu quả hiểu chung nhất là việc sử dụng không lãng phí các yếu tố đầu vào” và “hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lƣợng một loạt hàng hóa mà không cắt giảm một loạt hàng hóa khác.
Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó”[16;357]. Thực chất quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội. Việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sản xuất trên đƣờng giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao. Có thể nói mức hiệu quả ở đây mà tác giả đƣa ra là cao nhất, là lý tƣởng và không có mức hiệu quả cao hơn nữa.
Hai tác giả Wohe và Doring lại đƣa ra khái niệm khác về hiệu quả kinh tế. Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị. Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau. “Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lƣợng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg) và lƣợng nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị, nguyên vật liệu…) đƣợc gọi tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật.
Mối quan hệ giữa tỷ lệ chi phí kinh doanh phải chi ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế chi ra đƣợc gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị. Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị, ngƣời ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lƣợng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào bằng tiền” [17;34]. Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tƣ, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả hoạt động quản trị chi phí. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một khái niệm khác đƣợc nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nƣớc quan tâm chú ý và sử dụng phổ biến là: “Hiệu quả kinh tế của một số hiện tƣợng (hoặc quá trình) kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt đƣợc mục tiêu đã xác định”.
Điển hình cho quan điểm này là các tác giả Eugene L.Speight và Ian M. Theo quan điểm thống kê, một số tác giả cho rằng hiệu quả kinh tế đƣợc xác định bởi quan hệ giữa tỷ lệ tăng lên của hai đại lƣợng kết quả và chi phí, nói cách khác hiệu quả kinh tế đƣợc đo lƣờng bằng tỷ số giữa kết quả đầu ra với số lƣợng đầu vào. Các quan điểm này đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải của toàn bộ phần tham gia vào quá trình kinh tế. Điển hình cho quan điểm này là Manfred Bruhn.
Theo ông: “Tính hiệu quả đƣợc xác định bằng cách lấy kết quả tính theo nhiều đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh” [28;48]. Đây là quan điểm đƣợc nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng và tính hiệu quả của các quá trình kinh tế. Robert Lanquar cũng đề cập đến 2 chỉ tiêu trong vấn đề lao động việc làm: Y - ICOR = , trong đó Y là sản lƣợng giá trị tăng thêm, I là sự tăng thêm I của giá trị đầu tƣ - Hiệu quả lao động: hiệu quả gia tăng trên giá trị lao động [18;40] Áp dụng quan điểm này, TS. Trần Thị Kim Thu cũng đề xuất một khái niệm về hiệu quả kinh tế: “Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế đạt đƣợc với chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó” [20;4] 1.
Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế Để xác định tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế, cần xuất phát từ lợi ích và động lực. Hiệu quả kinh tế đƣợc xem xét đánh giá trên cơ sở hai cách tiếp cận, kết hợp hai loại lợi ích (lợi ích chung toàn xã hội và lợi ích tập thể doanh nghiệp), trên cơ sở kết hợp 2 quan điểm (quan điểm xã hội và quan điểm doanh nghiệp). Vậy 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế cần xuất phát từ lợi ích, bao gồm cả lợi ích tập thể doanh nghiệp và lợi ích chung toàn xã hội. Chỉ có nhƣ vậy mới tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của các doanh nghiệp cũng nhƣ toàn xã hội, gắn hiệu quả với hoạt động sản xuất kinh doanh.
Xác định đúng đắn tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả là cơ sở để lựa chọn, xác định đúng các chỉ tiêu kết quả để tính hiệu quả kinh tế. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế Nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Chúng ta đang thực hiện xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị trƣờng tất yếu không tránh khỏi cạnh tranh quyết liệt.
Đơn vị kinh tế nào, quốc gia nào có sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh cao, đơn vị đó, quốc gia đó sẽ đứng vững, tồn tại và phát triển. Khả năng cạnh tranh của từng đơn vị kinh tế cũng nhƣ của một quốc gia liên quan đến hai yếu tố quan trọng là chất lƣợng và hiệu quả. Chất lƣợng càng cao, hiệu quả càng cao thì khả năng cạnh tranh càng cao và ngƣợc lại. Ngày nay, toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đã thành xu hƣớng tất yếu.
Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế vừa có mặt tích cực nhƣng cũng chứa nhiều mặt tiêu cực, làm cho cạnh tranh càng trở nên khốc liệt. Trong điều kiện đó, nâng cao hiệu quả kinh tế lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nâng cao hiệu quả kinh tế cho phép thu đƣợc kết quả kinh tế nhất định, có thể tiết kiệm nguồn lực và chi phí cho sản xuất kinh doanh. Rõ ràng, nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa đặc biệt lớn lao.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả gồm các nhóm sau: - Thứ nhất, nhóm nhân tố thuộc về con ngƣời (sức khỏe, trình độ, tuổi tác, giới tính …) 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thứ hai, nhóm nhân tố thuộc về tƣ liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, công nghệ, kỹ thuật, tài nguyên …) - Thứ ba, nhóm nhân tố thuộc về quan hệ sản xuất (quan hệ quản lý, phân phối …) - Thứ tư, nhóm nhân tố thuộc về quản lý bao gồm cả quản lý vĩ mô và quản lý vi mô (các chính sách vĩ mô, trình độ ngƣời quản lý, đảm bảo thông tin cho quản lý vv…) - Thứ năm, nhóm nhân tố thuộc về môi trƣờng sản xuất kinh doanh (môi trƣờng pháp lý, bạn hàng, đối tác, quan hệ hiệp hội, quan hệ quốc tế …) - Thứ sáu, nhóm nhân tố thuộc về điều kiện thiên nhiên khí hậu … 1. Hiệu quả kinh tế trong du lịch 1. Khái niệm Trên cơ sở lý luận chung nêu trên, vận dụng cho nghiên cứu hiệu quả kinh tế của du lịch, có thể nói hiệu quả kinh tế của du lịch là quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất kinh doanh du lịch đạt đƣợc với chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó [20;17]. Quan điểm này đƣợc vận dụng ở phạm vi một doanh nghiệp du lịch, một lĩnh vực hoạt động kinh doanh (lữ hành, lƣu trú…), một khu vực, một ngành du lịch.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của du lịch Vì hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế đặc biệt quan trọng phản ánh yêu cầu tiết kiệm thời gian, trình độ sử dụng lực lƣợng sản xuất và mức độ hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền sản xuất xã hội, do đó, có rất nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả kinh tế. Có những yếu tố tác động trực tiếp và cả những yếu tố tác động gián tiếp. Có thể nêu các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh tế của ngành du lịch nói chung và của doanh nghiệp du lịch nói riêng 1. Các nhân tố khách quan 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội Đó là cơ sở hạ tầng của địa phƣơng nơi có hoạt động kinh doanh du lịch (hệ thống đƣờng sá, sự phát triển mạng lƣới giao thông, thông tin liên lạc…), các chủ trƣơng chính sách của chính quyền trung ƣơng và địa phƣơng, tình trạng dân trí… Điều kiện kinh tế xã hội ảnh hƣởng gián tiếp đến hiệu quả kinh tế thông qua nguồn khách và chính sách giá cả đối với các dịch vụ và hàng hóa.
- Môi trƣờng kinh doanh Môi trƣờng vĩ mô: bao gồm hệ thống pháp luật, các chủ trƣơng chính sách của Nhà nƣớc và của các ngành. Các luật lệ, chế độ chính sách kinh tế xã hội nơi có hoạt động kinh doanh du lịch ảnh hƣởng không ít tới hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp, nhất là chính sách đối ngoại của Nhà nƣớc có ảnh hƣởng trực tiếp đến lƣợng khách quốc tế. Môi trƣờng trực tiếp: là môi trƣờng cạnh tranh giữa các lĩnh vực hoạt động, giữa các doanh nghiệp trong ngành. Do sự phát triển nhanh chóng của du lịch trong những năm gần đây, số lƣợng các doanh nghiệp du lịch tăng lên nhanh chóng, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh du lịch.
- Các nguồn lực sẵn có Các nguồn lực sẵn có bao gồm tài nguyên du lịch và các nguồn lực khác: vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng… - Cơ chế quản lý kinh tế Cơ chế quản lý kinh tế là một yếu tố quan trọng, nó chi phối tác động của các yếu tố khác tới hiệu quả của cả nền kinh tế nói chung và kinh doanh du lịch nói riêng. Các nhân tố chủ quan 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.