CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những vấn đề lý luận chung về hiệu quả kinh tế 1. Khái niệm và ý nghĩa của hiệu quả kinh tế - Hiệu quả kinh tế : là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế. Quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế.
Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng. Yêu cầu của công tác quản lí kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế Xuất phát từ giác ngộ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra các nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế. + Quan điểm thứ nhất : Trước đây, người ta coi hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế. Ngày nay, quan điểm này không còn phù hợp, bởi vì nếu cùng một kết quả nhưng hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng một hiệu quả.
+ Quan điểm thứ hai: Hiệu quả đạt được xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân, hiệu quả sẽ cao khi các nhịp độ tăng của các chỉ tiêu đó cao. Nhưng chi phí hoặc nguồn lực tăng nhanh vì sao? Hơn nữa, điều kiện sản xuất năm hiện tại khác với năm trước, yếu tố bên trong và bên ngoài của nền kinh tế có những ảnh hưởng cũng khác nhau. Do đó, quan điểm này chưa thỏa đáng. + Quan điểm thứ ba: Hiệu quả là mức độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng chứ không phải là giá trị.
+ Quan điểm thứ tư: Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức độ tăng khối lượng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kì, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội, của nền kinh tế quốc dân. SVTH: Nguyễn Văn Tuấn 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. Nguyễn Văn Toàn Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt sản lượng một loại hàng hóa nào khác. Một nền kinh tế có hiệu quả năm trên đường khả năng giới hạn sản xuất của nó.
Giới hạn sản xuất được đặc trưng bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc dân tiềm năng ( Potential Gross National Produst) là tổng sản phẩm quốc dân cao nhất có thể đạt được, đó là mức sản lượng tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Như vậy, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả do đó việc xác định khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ quan điểm triết học Mác- xít và những luận điểm của lý thuyết hệ thống để có cách nhìn nhận và đánh giá một cách đúng đắn. - Một là: Theo quan điểm triết học Mác- xít thì bản chất của hiệu quả kinh tế là sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình độ sử dụng nguồn lực của xã hội. Các Mác cho rằng, quy luật tiết kiệm thời gian, là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất.
Mọi hoạt động của con người đều phải tuân theo quy luật này, nó quy định động lực phát triển của lực lượng sản xuất tạo điều kiện phát triển phát sinh xã hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại - Hai là: Theo quan điểm lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất. - Ba là: Hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng mà là mục tiêu phương tiên xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế. Trong kế hoạch, hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu ra và đầu vào, lợi ích lớn nhất thu được với một chi phí nhất định hoặc một kết quả nhất định với một chi phí nhỏ nhất. Trong phân tích kinh tế, hiệu quả kinh tế được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế kĩ thuật xác định bằng các tỷ lệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống xã hội, phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực và việc tạo ra lợi ích nhằm đạt được mục tiêu kinh tế xã hội.
- Hiệu quả kinh tế và tiêu chuẩn đánh giá Hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở mức đặc trưng quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế= Lượng kết quả đạt được – Tổng chi phí sản xuất SVTH: Nguyễn Văn Tuấn 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. Nguyễn Văn Toàn Từ khái niệm chung đó cần xác định tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế, đây là một vấn đề phức tạp và còn nhiều ý kiến chưa được thống nhất. Tuy nhiên, đa số các nha kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả kinh tế là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các tài nguyên. Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là các quan điểm, nguyên tắc đánh giá hiệu quả kinh tế trong các điều kiện cụ thể mà ở một giai đoạn nhất định.
Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu chung và chủ yếu xuyên suốt mọi thời kỳ, còn tiêu chuẩn là mục tiêu lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá bằng định lượng theo các tiêu chuẩn đã lựa chọn ở từng giai đoạn. Mỗi thời kỳ phát triển kinh tế- xã hội khác nhau thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cũng khác nhau. Mặt khác, tùy theo nội dung cảu hiệu quả mà có tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế quốc dân và hiệu quả của xí nghiệp. Vì vậy, nhu cầu thi đa dạng, thay đổi theo thời gian và tùy thuộc vào trình độ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất.
Đối với chăn nuôi gà tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế ta phải đứng trên góc độ hoạch toán kinh tế, tính toán các chi phí, các yếu tố đầu vào đồng thời tính toán được đầu ra từ đó xác định được mối tương quan kết quả giữa đầu vào bỏ ra và kết quả đạt được thì đó chính là lợi nhuận. -Ý nghĩa của hiệu quả kinh tế + Giúp cho người sản xuất thấy được kết quả đầu tư của mình, các chi phí đầu tư bỏ ra để đầu tư cho sản xuất kinh doanh sẽ được so sánh với kết quả thu được của quá trình sản xuất, qua đó giúp cho người sản xuất thấy được hiệu quả của hoạt động đầu tư để có thể đưa ra quyết định có nên tiếp tục đầu tư hay dừng đầu tư. + Giúp các nhà nghiên cứu biết các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế để từ đó có những giải pháp điều chỉnh kịp thời giải quyết các khó khăn và nâng cao hiệu quả kinh tế. Phương pháp xác định và bản chất của hiệu quả kinh tế -Phương pháp 1 : Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra.
SVTH: Nguyễn Văn Tuấn 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. Nguyễn Văn Toàn H=Q/C Trong đó: H: Hiệu quả kinh tế Q: Khối lượng sản phẩm thu được C: Chi phí bỏ ra - Phương pháp 2 : Hiệu quả kinh tế được xác định bằng cách so sánh phần tăng thêm của kết quả thu được và phần tăng thêm của chi phí bỏ ra H= ∆Q/∆C Trong đó: ∆Q: phần tăng thêm của kết quả ∆C: phần tăng thêm của chi phí 1. Vai trò của chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gà nói riêng trong phát triển kinh tế 1.Vai trò của ngành chăn nuôi Đối với nền kinh tế quốc dân Trong nền kinh tế quốc dân, chăn nuôi đóng vai trò khá quan trọng, nó góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế và góp một lượng hàng hoá cho xuất khẩu. Tuỳ theo lợi thế so sánh của mình, mỗi nước có thể xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp mà trong đó có một phần là sản phẩm chăn nuôi để thu ngoại tệ hay trao đổi để lấy các sản phẩm công nghiệp đầu tư lại cho ngành nông nghiệp và các ngành kinh tế khác.
Vì thế sự phát triển của ngành chăn nuôi sẽ ảnh hưởng tới phân bổ và phát triển các ngành sản xuất công nghiệp. Chăn nuôi không những cung cấp nguồn sản phẩm hàng hoá cho thị trường trong nước và cho xuất khẩu mà nó còn giúp sử dụng một cách đầy đủ và hợp lí lực lượng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp nông thôn. Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao, hơn nữa lao động trong nông nghiệp lại chiếm một tỉ trọng khá lớn trong tổng số lao động của nước ta và các nước đang phát triển khác. Lực lượng lao động này có một thời gian nhàn rỗi quá lớn do tính chất thời vụ trong sản xuất sinh ra.
Do đó việc phát triển ngành chăn nuôi đã giúp tạo công ăn việc làm cho nông dân và giúp họ tăng thu nhập. Đối với ngành nông nghiệp Đối với sản xuất nông nghiệp chăn nuôi có một vai trò rất quan trọng. SVTH: Nguyễn Văn Tuấn 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. Nguyễn Văn Toàn Trong sản xuất nông nghiệp thì hai ngành chính cấu thành nên nó là ngành trồng trọt và chăn nuôi.
Hai ngành này có sự liên hệ mật thiết với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Một nền nông nghiệp muốn phát triển được một cách bền vững và ổn định thì cần phải có sự phát triển một cách cân đối giữa hai ngành trồng trọt và chăn nuôi. Trồng trọt cung cấp thức ăn cho ngành chăn nuôi phát triển, mặt khác chăn nuôi cung cấp phân bón, sức kéo cho ngành trồng trọt. Nguồn phân hữu cơ mà chăn nuôi cung cấp cho ngành trồng trọt có vai trò hết sức quan trọng.
Vì thế để có một nền nông nghiệp bền vững thì không bao giờ được phép coi nhẹ vai trò của ngành chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp. Đối với hộ nông dân Ở nước ta hiện nay trong nền kinh tế thị trường, hộ nông dân đã được coi là một đơn vị kinh tế tự chủ thì vai trò của ngành chăn nuôi càng được coi trọng.