MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chè là cây công nghiệp dài ngày, nó có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Cây chè Việt Nam đã khẳng định được vị trí của mình, nó không chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn mang lại một nguồn thu ngoại tệ rất lớn cho nước ta. Trong những năm gần đây cây chè ở nước ta có chiều hướng phát triển mạnh, diện tích trồng chè và giá trị xuất khẩu ngày càng tăng rõ rệt.
Qua nghiên cứu cho thấy thị trường trong nước cũng như trên thế giới sẽ ổn định và phát triển trong nhiều năm tới. Trong nghị quyết của Chính phủ về định hướng phát triển chè đến năm 2016 [1] đã đề ra mục tiêu phải đáp ứng đủ nhu cầu trong nước và tăng kim ngạch xuất khẩu chè lên khoảng 200 triệu USD/năm (tăng gấp 4 lần so với năm 2005), giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động. Chè là một trong những cây có giá trị cao ở trung du, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, là cây xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc miền núi. Riêng với tỉnh Thái Nguyên cây chè đã góp phần làm giàu cho nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là chủ cơ sở nhỏ và các doanh nghiệp.
Ngành chè Thái Nguyên đã giải quyết việc làm cho 66.000 hộ nông dân, sản lượng chè khô thu được hàng năm đạt 16.000 tấn, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng năm đạt 4,2 - 4,8 triệu USD [1]. Việt Nam được đánh giá là nước có ngành sản xuất chè truyền thống với nhiều vùng chè đặc sản nổi tiếng. Sản lượng chè hàng năm đạt 577 nghìn tấn chè thô. Chè Việt Nam đã được xuất sang 107 thị trường trên thế giới, trong đó có 68 thị trường thuộc các quốc gia thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam vẫn xuất khẩu chủ yếu là h ` 2 chè bán thành phẩm với chất lượng ở mức trung bình. Câu hỏi mà ngành chè đang quan tâm nhất hiện nay là làm sao quy hoạch tốt nguồn nguyên liệu, nâng cao chất lượng chè phục vụ xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh, khẳng định được thương hiệu chè Việt Nam trên thị trường thế giới. Hiện nay tham gia chế biến và tiêu thụ chè tại Thái Nguyên có các thành phần kinh tế: Công ty TNHH, công ty liên doanh, doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình. Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 29 doanh nghiệp, trong đó có 8 doanh nghiệp nhà nước, 2 công ty cổ phần, còn lại là các doanh nghiệp tư nhân, công ty liên doanh phân bố trong các huyện trong tỉnh, 2 công ty cổ phần, còn lại là các doanh nghiệp tư nhân.
Tuy vậy nguồn chè cung cấp để sản xuất thì vẫn còn rất hạn chế về chất lượng, mẫu mã dẫn tới giá thành của chè xuất khẩu của Việt Nam nói chung và Thái Nguyên nói riêng có giá thấp hơn 25 - 50% so với giá thị trường thế giới Định Biên cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoáng 50 km và cách trung tâm thị trấn Chợ Chu khoảng 10 km. Đây là một trong số những vùng sản xuất chè được đánh giá là vùng đất sản xuất chè ngon và nước chè có màu mật ong vàng óng. Cây chè xuất hiện ở Định Biên từ cuối thế kỷ XIX, hiện nay tổng diện tích chè toàn xã đang được phân bố rộng, năng suất chè bình quân đạt ở mức cao. Tuy nhiên sản xuất chè ở Định Biên vẫn mang tính nhỏ lẻ, sản phẩm làm ra chưa có tính cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và nước ngoài.
Người dân trồng chè chỉ biết chăm sóc và thu hái nhưng khi mang sản phẩm ra bán ngoài thị trường thì giá cả lại không ổn định. Đặc biệt, hiện vẫn chưa có một bức tranh tổng quát về hiệu quả kinh tế của cây chè so với những cây trồng khác tại địa phương. Xuất phát từ những thực tế trên chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây chè kinh doanh trên địa bàn xã Định Biên huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.
Mục tiêu chung Phân tích được đầy đủ, chính xác hiệu quả sản xuất chè của xã Định Biên, qua đó đưa ra các giải pháp nhằm phát triển sản xuất chè, nâng cao thu nhập và đời sống cho hộ nông dân, góp phần thực hiện chiến lược phát triển kinh tế theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội bộ, tăng sản lượng hàng hoá đáp ứng yêu cầu của thị trường. Mục tiêu cụ thể Hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về sản xuất chè và hiệu quả kinh tế nói chung, của cây chè nói riêng trong phát triển sản xuất kinh doanh. Đánh giá thực trạng phát triển và phân tích hiệu quả kinh tế sản xuất chè ở xã Định Biên, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế về mặt hiệu quả sản xuất chè. Đề xuất một số phương hướng và giải pháp kinh tế chủ yếu, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của cây chè.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Có được cái nhìn tổng thể về thực trạng sản xuất và hiệu quả sản xuất chè của xã Định Biên. Đề tài cũng là tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các nghiên cứu trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp phần nào vào việc đánh giá hiệu quả sản xuất chè tại xã Định Biên.
Giúp người dân có cơ sở để tiếp tục mở rộng sản xuất lúa và đề ra phương hướng đề nâng cao hiệu quả kinh tế của cây chè đem lại cho người dân trên địa bàn xã. h ` 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lí luận của đề tài 2. Tầm quan trọng của cây chè đối với đời sống con người Chè là loại cây trồng 1 lần nhưng có thể thu hoạch nhiều lần: từ 30 đến 50 năm.
Trồng và thâm canh từ đầu, liên tục trong 3 năm cây chè được đưa vào giai đoạn thu hoạch do có tính ổn định về năng suất mang lại lợi ích kinh tế cao. Ngoài ra cây chè là cây cần nhiều lao động trong việc trồng và thu hoạch. Từ búp chè hay các phần khác của cây chè mà người ta chế tạo ra các sản phẩm khác nhau như: chè tươi, chè túi lọc, chè xanh, chè đen, chè vàng. Chè có nhiều vitamin giúp thanh lọc cơ thể, giải khát, có tác dụng giảm thiểu một số bệnh thường gặp về máu .do đó chè đã trở thành đồ uống phổ thông trên thế giới Tại một số nước thói quen uống nước chè đã tạo thành một nền văn hóa truyền thống, một tập quán.
Hiện nay khoa học tiến bộ đã đi sâu vào nghiên cứu tìm ra được một số hoạt chất quý có trong cây chè như: cafein, vitamin A, B1. Đặc biệt trong cây chè còn chứa Vitamin C là loại Vitamin dùng để điều chế thuốc tân dược vì thế chè không những là loại cây giải khát mà chè còn có tên trong danh sách cây y dược [11]. Ở Nhật Bản, cây chè bắt đầu được biết đến khi nhà sư Saicho mang từ Trung Quốc sang vào thế kỷ thứ VIII cùng với các tư tưởng văn hóa, nghề trồng trọt, Phật giáo. Người Nhật Bản cũng có sở thích uống chè và với khoa học tiên tiến hiện nay họ đã chứng minh được cây chè có tác dụng hút chất phóng xạ độc hại.
Bằng chứng là tại thế chiến thứ 2 sau khi quân đội Mỹ đã ném 2 quả bom nguyên tử xuống 2 vùng đông dân nhất của nước này thì tại nơi đó những vùng trồng chè tại 2 thành phố đó vẫn sống khỏe mạnh. Chính vì thế người Nhật đã gọi đây là thức uống của thời đại nguyên tử. h ` 5 Tại Việt Nam cây chè là thức uống vô cùng quen thuộc đối với người dân. Chè có vị đậm, mới uống có vị đắng và chát nhưng khi uống xong lại thấy có vị ngọt ở đầu lưỡi, uống chè phải uống đến nước thứ 3 thì mới cảm nhận được hết những cái ngon của chè.
Chè còn là một món không thể thiếu trong các dịp lễ hội, các dịp tết, cưới hỏi, ma chay. Trong các dịp đó nếu thiếu đi chè thì bản sắc văn hóa của đất nước có hơn 4000 năm lịch sử cũng bị mất đi. Vì thế đối với các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thì cây chè được coi như là truyền thống của dân tộc [10]. Hiện nay chè là loại cây có giá trị xuất khẩu cao ngoài ra tại thị trường trong nước hiện nay cũng đòi hỏi về chất lượng cây chè ngày càng cao.
Phát triển sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ giúp tăng thu nhập cho người nông dân tại một số vùng miền núi. Do đó việc phát triển ngành chè trong những năm tới là rất khả thi. Một số vấn đề về hiệu quả kinh tế 2. Hiệu quả sản xuất * Hiệu quả sản xuất : người sản xuất phải đối mặt với các giới hạn trong việc sử dụng các nguồn lực sản xuất.
Do đó, cần phải xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các hoạt động cần thực hiện dựa vào các nguồn lực đó sao cho đạt kết quả cao nhất. Trong đó gồm ba yếu tố mà Pauly (1970) và Culyer (1985) đã rút ra nhận xét như sau: - Không sử dụng nguồn lực lãng phí. - Sản xuất với chi phí thấp nhất. - Sản xuất để đáp ứng nhu cầu của con người.
Từ nhận xét này, chúng ta có thể thấy rằng: 2 nhận xét đầu liên quan đến quá trình sản xuất và nhận xét thứ 3 liên quan đến thị trường (phân phối). Tóm lại, trong bất cứ quá trình sản xuất nào, khi tính hiệu quả sản xuất thì người ta thường đề cập đến 3 nội dung cơ bản: hiệu quả kinh tế, hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả phân phối. h ` 6 * Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế được đo bằng sự so sánh kết quả sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả kinh tế là biểu hiện của tính hiện hữu về mặt kinh tế của việc sử dụng các vật tư, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Nó chỉ ra các mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế thu được với các chi phí bằng tiền trong mỗi chu kì kinh doanh. Lợi ích kinh tế càng lớn thì hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại. Hay nói cách khác, tiêu chí về hiệu quả kinh tế thực ra là giá trị.