Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng là xu hướng được ưa chuộng trên thế giới và tại Việt Nam từ năm 1997, nhằm đáp ứng nhu cầu trải nghiệm không gian tự nhiên hoang sơ và văn hóa bản địa. Mô hình du lịch lưu trú tại nhà dân (homestay) giúp du khách cùng ăn, nghỉ, tham gia sinh hoạt thường ngày và tìm hiểu phong tục tập quán của các cộng đồng dân tộc thiểu số, đồng thời tạo nguồn thu nhập trực tiếp cho người dân nông thôn.

Thôn Nậm Hồng thuộc xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang, nằm cách Quốc lộ 2 (ngã ba Tân Quang) 33 km, cách thành phố Hà Giang 77 km và cách trung tâm xã 3,5 km. Đây là địa bàn sinh sống của đồng bào dân tộc Dao đỏ với cảnh quan ruộng bậc thang uốn lượn và nghề chè Shan tuyết cổ thụ. Năm 2019, mô hình du lịch cộng đồng tại thôn Nậm Hồng đã được công nhận là sản phẩm OCOP (Mỗi xã một sản phẩm). Tuy nhiên, việc khai thác tiềm năng và lợi thế tại địa phương vẫn chưa phát huy hết năng lực sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó, tác giả Phàn Thị Ngọc thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Kinh tế nông nghiệp nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình hợp tác xã (HTX) du lịch tại đây.

Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá hiệu quả kinh doanh của Hợp tác xã du lịch cộng đồng và dịch vụ tổng hợp tại thôn Nậm Hồng, xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho người dân và đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể gồm 4 nội dung:

  1. Tìm hiểu tình hình phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn thôn Nậm Hồng, xã Thông Nguyên.
  2. Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của hoạt động du lịch cộng đồng.
  3. Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động kinh doanh của Hợp tác xã.
  4. Đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho mô hình du lịch cộng đồng.

Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả hoạt động kinh doanh của Hợp tác xã du lịch cộng đồng và tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng tại thôn Nậm Hồng. Phạm vi nghiên cứu về không gian được giới hạn tại thôn Nậm Hồng, xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Phạm vi thời gian thực hiện nghiên cứu thực địa từ ngày 10/01/2020 đến ngày 10/05/2020, sử dụng chuỗi số liệu thống kê thứ cấp giai đoạn 2017 – 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành: du lịch và dịch vụ du lịch (theo Luật Du lịch), du lịch cộng đồng, hợp tác xã (theo Luật Hợp tác xã) và hiệu quả kinh doanh. Đề tài vận dụng 10 tiêu chí phát triển du lịch cộng đồng của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 2008), 4 nguyên tắc phát triển du lịch dựa vào cộng đồng của Võ Quế (2008) và các nguyên tắc phát triển bền vững của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO, 2004). Nghiên cứu phân loại 7 hình thức du lịch cộng đồng: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch nông nghiệp, du lịch bản địa, du lịch làng, nghệ thuật thủ công mỹ nghệ và du lịch homestay.

Về cơ sở thực tiễn, tác giả phân tích kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng thông qua chiến lược marketing 4P (Product, Price, Place, Promotion) tại thành phố Hua Hin (Thái Lan), chương trình xúc tiến "Visit Japan" tại khu phố cổ Ouchi-Juku (Nhật Bản), cùng các mô hình làng văn hóa du lịch cộng đồng tại huyện Quản Bạ (thôn Nặm Đăm, thôn Nậm Lương, thôn Khố Mỷ) và huyện Đồng Văn (thôn Lũng Cẩm Trên, thôn Lô Lô Chải) thuộc tỉnh Hà Giang.

Phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập dữ liệu và xử lý số liệu:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ sách, báo, tài liệu chuyên ngành, mạng internet và các báo cáo thống kê, tổng kết kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân xã Thông Nguyên giai đoạn 2017 – 2019.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Tiến hành chọn mẫu khảo sát điều tra trực tiếp 40 hộ dân tại thôn Nậm Hồng bằng bảng hỏi có sẵn. Nội dung điều tra thu thập thông tin nhân khẩu (họ tên, giới tính, trình độ học vấn), điều kiện sản xuất kinh doanh và các chỉ tiêu tài chính liên quan đến hoạt động du lịch của hộ.
  • Phương pháp tổng hợp và phân tích: Vận dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm phản ánh thực trạng; phương pháp phân tích và tổng hợp để nhận định các khía cạnh kinh tế; phương pháp so sánh đối chiếu nhằm đánh giá sự biến động qua các năm 2017, 2018 và 2019.
  • Các chỉ tiêu kinh tế sử dụng: Doanh thu ($Doanh\ thu = Sản\ lượng \times Giá\ bán$), Lợi nhuận ($Lợi\ nhuận = Doanh\ thu - Chi\ phí$) và Tỷ suất lợi nhuận vốn doanh thu bán hàng ($T_{sv} = (P / V_{bq}) \times 100$, với $P$ là lợi nhuận sinh ra trong kỳ, $V_{bq}$ là tổng vốn sản xuất bình quân).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu về du lịch cộng đồng tại vùng đồng bào dân tộc Dao đỏ; xác định mục tiêu nghiên cứu tổng quát và 4 mục tiêu cụ thể; nêu rõ ý nghĩa lý luận, ý nghĩa học tập và ý nghĩa thực tiễn của đề tài đối với các cơ quan quản lý tại địa phương và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Hệ thống hóa các khái niệm, đặc điểm, tiêu chí hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh du lịch. Trình bày vai trò của du lịch cộng đồng đối với kinh tế nông thôn và phân tích 7 hình thức du lịch đặc thù. Phân tích kinh nghiệm quốc tế (Thái Lan, Nhật Bản) và trong nước (Quản Bạ, Đồng Văn), từ đó rút ra bài học về quy hoạch không gian, đào tạo nhân lực, đầu tư hạ tầng và xúc tiến quảng bá cho du lịch cộng đồng.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định đối tượng nghiên cứu là HTX du lịch cộng đồng và các hộ dân; phạm vi không gian tại thôn Nậm Hồng, thời gian thực hiện từ tháng 01/2020 đến tháng 05/2020. Chi tiết hóa quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp tại UBND xã Thông Nguyên và dữ liệu sơ cấp từ 40 phiếu phỏng vấn hộ gia đình; thuyết minh phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu và hệ thống công thức tính toán chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi nhuận, tỷ suất sinh lời.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Phân tích đặc điểm tự nhiên, địa hình, khí hậu, tài nguyên đất, nước, rừng và tình hình kinh tế - xã hội của xã Thông Nguyên. Đánh giá quá trình hình thành HTX du lịch cộng đồng thôn Nậm Hồng từ năm 2017 với 7 thành viên; phân tích lượng khách du lịch giai đoạn 2017 – 2019 và cơ sở vật chất lưu trú trên địa bàn. Trình bày chi tiết cơ cấu doanh thu theo 6 dịch vụ, phân bổ chi phí và kết quả sản xuất kinh doanh của HTX. Tổng hợp dữ liệu điều tra 40 hộ về số lao động tham gia du lịch và trình độ học vấn của 77 lao động. Nhận diện các thuận lợi, khó khăn và đề xuất 8 nhóm giải pháp phát triển du lịch cộng đồng.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các kết quả đạt được về hiệu quả kinh doanh của HTX và tác động kinh tế tới người dân; đưa ra các kiến nghị đối với Nhà nước, chính quyền địa phương xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì và người dân tham gia hoạt động du lịch.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh tình hình kinh tế, lượng khách và kết quả tài chính của hoạt động du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu qua các bảng số liệu cụ thể:

Chỉ tiêu phát triển kinh tế xã Thông Nguyên Đơn vị Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
Tổng giá trị gia tăng Triệu đồng 330 395 460
- Nông lâm nghiệp - Thủy sản Triệu đồng 150 160 205
- Công nghiệp - Xây dựng Triệu đồng 100 125 130
- Dịch vụ Triệu đồng 80 110 125
Tỷ trọng ngành Nông lâm nghiệp - Thủy sản % 29,7 30,2 35,7
Tỷ trọng ngành Dịch vụ % 17,5 17,6 18,6
Tốc độ tăng trưởng kinh tế % 11,2 12,3 13,5
Thu nhập bình quân đầu người/năm Triệu đồng 14 16 18

Về số lượng du khách đến xã Thông Nguyên, số liệu giai đoạn 2017 – 2019 cho thấy sự gia tăng đều qua các năm:

Phân loại khách du lịch Năm 2017 (người) Cơ cấu 2017 (%) Năm 2018 (người) Cơ cấu 2018 (%) Năm 2019 (người) Cơ cấu 2019 (%)
Khách quốc tế 325 13,00 510 14,66 575 14,09
Khách nội địa 2.175 87,00 3.090 85,83 3.505 85,91
Tổng số lượt khách 2.500 100,00 3.600 100,00 4.080 100,00

Về năng lực hạ tầng lưu trú tại thôn Nậm Hồng, nghiên cứu thống kê 5 cơ sở tiêu biểu áp dụng hình thức tự kinh doanh:

  • Kinh Homestay: Quy mô 20 phòng, 40 giường.
  • Dao Homestay: Quy mô 10 phòng, 10 giường.
  • Tạ Quyên Homestay: Quy mô 12 phòng, 24 giường.
  • Hào Thu Homestay: Quy mô 5 phòng, 5 giường.
  • Hoàng Su Phì Bungalow: Quy mô 14 phòng, 28 giường.

Về hoạt động của HTX du lịch cộng đồng Nậm Hồng (thành lập năm 2017 gồm 7 thành viên, do anh Triệu Mềnh Kinh làm Giám đốc), Hội đồng quản trị gồm 3 người. Doanh thu của HTX phân theo loại hình dịch vụ qua 3 năm như sau:

Dịch vụ của HTX 2017 (Trđ) Tỷ lệ (%) 2018 (Trđ) Tỷ lệ (%) 2019 (Trđ) Tỷ lệ (%)
Lưu trú 230 30,46 265 34,28 287 35,51
Ăn uống 154 20,39 192 24,83 200 24,75
Hướng dẫn viên 110 14,56 84 10,86 92 11,38
Biểu diễn nghệ thuật 84 11,12 76 9,83 75 9,28
Tắm lá thuốc 114 15,09 96 12,41 100 12,37
Cho thuê phương tiện di chuyển 63 8,34 60 7,76 54 6,68
Tổng doanh thu 755 100,00 773 100,00 808 100,00

Về chi phí phân bổ cho các quỹ và hoạt động của HTX năm 2019 đạt tổng mức 96,8 triệu đồng: trích quỹ phát triển 20% (19,36 triệu đồng), trích quỹ dự phòng 5% (4,84 triệu đồng), quỹ phúc lợi 3% (2,336 triệu đồng), chi hoạt động chung 10% (9,68 triệu đồng), chi cho thành viên sử dụng dịch vụ/sản phẩm 10% (9,68 triệu đồng), chi cho bộ máy quản lý chiếm tỷ trọng lớn nhất 52%.

Kết quả sản xuất kinh doanh bình quân năm của HTX theo 7 ngành nghề đăng ký được tổng hợp như sau:

STT Tên ngành kinh doanh Mã ngành Doanh thu (Trđ) Chi phí (Trđ) Lợi nhuận (Trđ)
1 Đại lý du lịch 7911 32,0 22,4 9,6
2 Điều hành tua du lịch 7912 40,0 28,0 12,0
3 Dịch vụ đặt chỗ và hỗ trợ quảng bá tua 7990 40,0 32,0 8,0
4 Dịch vụ lưu trú ngắn ngày 5510 48,0 28,8 19,2
5 Nhà hàng và dịch vụ ăn uống phục vụ lưu động 5610 80,0 56,0 24,0
6 Dịch vụ phục vụ đồ uống 5630 120,0 102,0 18,0
7 Dịch vụ xông hơi, massage, tắm thuốc 9610 20,0 14,0 6,0
- Tổng cộng - 380,0 283,0 96,0

Về phía 40 hộ dân được điều tra tại thôn Nậm Hồng, có 22 hộ trực tiếp tham gia hoạt động du lịch với 77 lao động. Số hộ có 1 – 2 lao động tham gia du lịch chiếm đa số (6 hộ khá, 5 hộ trung bình, 2 hộ nghèo và cận nghèo). Số hộ có 3 – 4 lao động gồm 3 hộ khá, 4 hộ trung bình và 1 hộ nghèo/cận nghèo. Chỉ có 1 hộ khá có trên 5 lao động tham gia. Trình độ học vấn của 77 lao động này phân bố: mù chữ 17 người (22,1%), cấp I 18 người (23,4%), cấp II 15 người (19,4%), cấp III 17 người (22,1%), trung cấp - cao đẳng 8 người (10,4%) và đại học 2 người (2,6%).

Tác giả đề xuất 8 nhóm giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại địa phương:

  1. Thực thi chính sách địa phương: Tăng cường quản lý quy hoạch đất đai du lịch, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật đất đai.
  2. Xây dựng mô hình làng văn hóa du lịch: Hoàn thiện kiến trúc nhà đất, mái lá cọ truyền thống của người Dao đỏ.
  3. Bảo vệ và tôn tạo tài nguyên: Bảo tồn rừng tự nhiên (1.250 ha), duy trì nguồn nước sạch và giữ gìn các đồi chè cổ thụ.
  4. Tổ chức hoạt động và quản lý: Mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý HTX, đào tạo kỹ năng đón tiếp khách và ngoại ngữ cho người dân.
  5. Bảo vệ môi trường: Thu gom, xử lý rác thải tại các điểm lưu trú, giữ gìn cảnh quan đường làng ngõ xóm.
  6. Phát triển cơ sở hạ tầng: Tiếp tục duy trì hệ thống giao thông nhựa hóa và bê tông hóa 100%, bảo đảm an toàn lưới điện và viễn thông.
  7. Mở rộng thị trường hàng hóa: Liên kết các công ty lữ hành, quảng bá sản phẩm OCOP chè Shan tuyết và trang phục thổ cẩm.
  8. Vốn đầu tư: Tạo điều kiện cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo tiếp cận nguồn vốn vay tín dụng ưu đãi để sửa chữa nhà cửa làm homestay.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc lượng hóa chi tiết cơ cấu doanh thu, chi phí của mô hình HTX du lịch tại địa bàn vùng cao; chỉ ra vai trò của mô hình kinh tế tập thể trong việc dẫn dắt kinh tế hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số chuyển dịch từ nông nghiệp thuần túy sang dịch vụ du lịch bản địa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi khảo sát:

  • Phạm vi không gian và quy mô mẫu hạn chế: Nghiên cứu chỉ tập trung tại 1 thôn (thôn Nậm Hồng) với 40 hộ điều tra và 1 hợp tác xã, chưa mở rộng so sánh với các thôn, xã khác có hoạt động du lịch cộng đồng trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì.
  • Trình độ nguồn nhân lực tại chỗ còn thấp: Tỷ lệ lao động mù chữ chiếm 22,1% và lao động có trình độ đại học chỉ chiếm 2,6%, làm hạn chế khả năng áp dụng công nghệ thông tin và quản trị kinh doanh hiện đại.
  • Phương pháp phân tích chủ yếu dừng lại ở thống kê mô tả và so sánh số liệu tuyệt đối, chưa áp dụng mô hình kinh tế lượng để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ.

Hướng nghiên cứu tiếp được xác định:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát liên xã hoặc liên huyện (như Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc) để đánh giá chuỗi giá trị du lịch cộng đồng cấp vùng tại tỉnh Hà Giang.
  • Ứng dụng các mô hình định lượng đánh giá mức độ sẵn lòng chi trả (WTP) của du khách quốc tế đối với các dịch vụ trải nghiệm văn hóa dân tộc Dao đỏ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Phát triển nông thôn làm tài liệu nghiên cứu về phát triển du lịch homestay tại vùng miền núi.
  • Cán bộ quản lý tại Ủy ban nhân dân cấp xã, huyện và cơ quan quản lý du lịch địa phương trong việc xây dựng kế hoạch phát triển làng văn hóa du lịch gắn với chương trình OCOP và xây dựng nông thôn mới.
  • Các sáng lập viên, hội đồng quản trị hợp tác xã nông nghiệp - du lịch trong việc tham khảo cơ cấu ngành nghề đăng ký kinh doanh, cách thức tổ chức dịch vụ và cơ chế phân bổ các quỹ nội bộ.

Nội dung đáng tham khảo nhất là hệ thống bảng biểu chi tiết về doanh thu, chi phí của 7 ngành nghề kinh doanh du lịch và cơ cấu chi phí vận hành hợp tác xã du lịch cộng đồng cấp thôn.

Câu hỏi thường gặp

HTX Du lịch cộng đồng thôn Nậm Hồng được thành lập khi nào và có cơ cấu quản lý như thế nào?
HTX được thành lập vào năm 2017 với 7 thành viên ban đầu, do anh Triệu Mềnh Kinh làm Giám đốc. Hội đồng quản trị của HTX gồm 3 người: 1 Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc HTX, 1 Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Phó Giám đốc HTX và 1 Ủy viên Hội đồng quản trị.

Doanh thu của HTX Nậm Hồng đến từ những dịch vụ nào và dịch vụ nào chiếm tỷ trọng cao nhất?
Doanh thu HTX đến từ 6 dịch vụ chính: Lưu trú, Ăn uống, Hướng dẫn viên, Biểu diễn nghệ thuật, Tắm lá thuốc và Cho thuê phương tiện di chuyển. Trong đó, dịch vụ lưu trú luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, tăng từ 30,46% (230 triệu đồng) năm 2017 lên 35,51% (287 triệu đồng) năm 2019.

Tình hình lượng khách du lịch đến xã Thông Nguyên giai đoạn 2017 – 2019 biến động ra sao?
Lượng khách du lịch đến xã tăng từ 2.500 lượt (năm 2017) lên 3.600 lượt (năm 2018) và đạt 4.080 lượt (năm 2019). Trong đó, khách nội địa chiếm tỷ trọng chủ đạo (85,91% năm 2019), còn khách quốc tế đạt 575 lượt (chiếm 14,09% năm 2019).

Trình độ học vấn của người lao động tham gia du lịch tại các hộ điều tra ở thôn Nậm Hồng như thế nào?
Khảo sát 77 lao động tại 22 hộ tham gia du lịch cho thấy: 22,1% mù chữ, 23,4% trình độ Cấp I, 19,4% trình độ Cấp II, 22,1% trình độ Cấp III, 10,4% trình độ Trung cấp - Cao đẳng và 2,6% có trình độ Đại học.

Các cơ sở lưu trú homestay tại thôn Nậm Hồng có đặc điểm xây dựng và quy mô phòng ra sao?
Các cơ sở lưu trú được xây dựng theo kiến trúc nhà đất lợp lá cọ truyền thống của người Dao đỏ. Quy mô mỗi cơ sở dao động từ 5 đến 20 phòng (từ 5 đến 40 giường); điển hình như Kinh Homestay (20 phòng/40 giường), Hoàng Su Phì Bungalow (14 phòng/28 giường), Tạ Quyên Homestay (12 phòng/24 giường).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phàn Thị Ngọc đã phản ánh toàn diện thực trạng phát triển và hiệu quả kinh tế của mô hình HTX du lịch cộng đồng tại thôn Nậm Hồng, xã Thông Nguyên trong giai đoạn 2017 – 2019. Dữ liệu nghiên cứu cho thấy mô hình kinh doanh homestay kết hợp dịch vụ bản địa đã mang lại nguồn thu ổn định cho HTX và các hộ dân tộc Dao đỏ, góp phần nâng cao thu nhập bình quân đầu người của xã từ 14 triệu lên 18 triệu đồng/năm. Đề tài đã chỉ rõ những rào cản về mặt bằng học vấn lao động và đưa ra hệ thống 8 nhóm giải pháp đồng bộ từ hạ tầng, bảo tồn tài nguyên đến đào tạo kỹ năng nghề nhằm duy trì tính bền vững cho sản phẩm du lịch OCOP tại địa phương.