Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chương 2: Đặc điểm cơ bản của Cơ sở Mây tre đan Thái Hòa, Hà Nội Chương 3: Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Cơ sở Mây tre đan Thái Hòa. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Sản xuất Sản xuất là hoạt động của con người để tạo ra những sản phẩm hữu ích (sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ) nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội – tiêu dùng cho sản xuất, cho đời sống, cho tích luỹ và cho xuất khẩu.
Các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thoả mãn nhu cầu của các đối tượng tiêu dùng không tự làm được hoặc không đủ điều kiện để tự làm được những sản phẩm vật chất và dịch vụ mà mình có nhu cầu. Những hoạt động này sáng tạo ra sản phẩm vật chất hoặc dịch vụ để bán cho người tiêu dùng nhằm thu được lợi nhuận kinh doanh. Kinh doanh Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư với mục tiêu thu lợi nhuận Các đặc điểm của kinh doanh: Mỗi quá trình kinh doanh đều do một chủ thể tiến hành, được gọi chung là chủ thể kinh doanh. Chủ thể kinh doanh có thể là một cá nhân, tổ chức, hộ gia đình hoặc một tập thể, các chủ thể này phải có sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất, có quyền tự chủ động trong khuôn khổ pháp luật trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Mục tiêu của hoạt động kinh doanh là thu lợi nhuận. - Kinh doanh phải gắn với thị trường, không có thị trường thì không diễn ra hoạt động kinh doanh. - Kinh doanh phải gắn liền với sự vận động của vốn. Khái niệm kết quả và hiệu quả SXKD 1.
Kết quả sản xuất kinh doanh Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định (chu kỳ sản xuất), có thể là những đại lượng cân đo đong đếm được như doanh thu, lợi nhuận… 5 và cũng có thế là các đại lượng hoàn toàn có tính chất định tính như chất lượng sản phẩm. Hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, vốn và các yếu tố khác…) Doanh nghiệp được coi là sản xuất có hiệu quả phải đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu. Vì vậy, để đánh giá chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh, người ta sử dụng cả 2 chỉ tiêu: kết quả sản xuất và chi phí sản xuất. Công thức xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh: Chỉ tiêu tuyệt đối: Hiệu quả sản xuất kinh doanh = Kết quả đầu ra – Chi phí đầu vào Chỉ tiêu tương đối: Hiệu quả sản xuất kinh doanh = Kết quả đầu ra/Chi phí đầu vào Chỉ tiêu này thể hiện hiệu quả của việc bỏ ra một đồng vốn để thu được kết quả cao hơn, tức là đã có sự xuất hiện của giá trị gia tăng với điều kiện chỉ tiêu tương đối lớn hơn 1.
Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Hiện nay các doanh nghiệp trên thị trường đa số đều thực hiện quá trình sản xuất và kinh doanh, cung cấp các dịch vụ thế mạnh để sinh lời. Những doanh nghiệp này được xem là một tổ chức kinh tế vị lợi. Bên cạnh đó cũng có những doanh nghiệp hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.
Khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc thực hiện tất cả các công đoạn của quá trình từ đầu tư sản xuất đến tiêu thụ hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Các doanh nghiệp quan tâm nhất chính là vấn đề hiệu quả kinh doanh. Sản xuất kinh doanh có hiệu quả giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với phạm trù lợi nhuận, là hiệu số giữa kết quả thu về với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả 6 đó.
Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của mỗi doanh nghiệp (PGS. Trương Bá Thanh, 2009). Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế, gắn với cơ chế thị trường có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp như: lao động, vốn, máy móc, nguyên vật liệu… Đối với các doanh nghiệp để đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh cần phải chú trọng đến điều kiện nội tại, phát huy năng lực hiệu quả của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải sử dụng các yếu tố đầu vào hợp lý nhằm đạt được kết quả tối đa và chi phí tối thiểu. Tuy nhiên để hiểu rõ bản chất của hiệu quả cũng cần phân biệt khái niệm hiệu quả và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ta có thể rút ra khái niệm về hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp như sau: “Hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp là sự so sánh kết quả đầu ra và yếu tố nguồn lực đầu vào của một doanh nghiệp”. Như vậy, có thể có chỉ tiêu hiệu quả tương đối hoặc chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối. Kết quả đầu ra thường được biểu hiện bằng doanh thu, lợi nhuận. Yếu tố nguồn lực đầu vào là lao động, chi phí, tài sản và nguồn vốn.
Bản chất và ý nghĩa của phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua việc nghiên cứu tìm hiểu bản chất từng khoản mục như doanh thu, chi phí, lợi nhuận,… Trên cơ sở đó, tìm kiếm những gì đạt được và chưa đạt dược đẻ có giải pháp cải thiện hợp lý. Đồng thời, so sánh và phân tích biến động của các khoản mục năm nay với các năm trước, tìm ra những nguyên nhân gây lên sự chênh lệch đó để có hướng khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Phân tích hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu hiệu quả, so sánh sự biến động của các khoản mục trong bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng cân đối kế toán cũng như đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp. 7 - Xác định nguyên nhân làm tăng, giảm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bản chất hiệu quả SXKD của doanh nghiệp Thực chất của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh và tiết kiệm các chi phí đó để đạt được mục đích sản xuất kinh doanh. Đó là hai mặt của vấn đề đánh giá hiệu quả. Do vậy, có thể hiểu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là đạt được kết quả kinh tế tối đa với chi phí nhất định.
(Hiệu quả kinh tế trong doanh nghiệp, Nguyễn Sỹ Thịnh, 1985) Nói cách khác, bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội, đóng góp vào sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và của xã hội nói chung. Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả SXKD gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là quy luật tiết kiệm thời gian và quy luật năng suất lao động. Chính vì khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính chất cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đặt ra yêu cầu khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực. Để đạt được mục tiêu kinh doanh buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại phát huy năng lực, hiệu quả của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm chi phí.
Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu. Nói một cách tổng quát, hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ và năng lực quản lý, đảm bảo thực hiện có kết quả cao những nhiệm vụ kinh tế - xã hội đặt ra với chi phí thấp nhất. Ý nghĩa của phân tích hiệu quả SXKD của doanh nghiệp Phân tích hiệu quả hoạt động SXKD là cơ sở quan trọng để các doanh nghiệp đề ra các quyết định kinh doanh, được thể hiện ở những điểm sau: - Kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh: Ý nghĩa trước tiên của phân tích là đánh giá và kiểm tra khái quát giữa kết quả tính được so với các mục tiêu kế hoạch, dự toán định mức đã đặt ra, để khẳng định tính đúng đắn và khoa học 8 của chỉ tiêu xây dựng, trên một số mặt chủ yếu của quá trình hoạt động kinh doanh. Ngoài quá trình đánh giá dựa trên phân tích cần xem xét đánh giá tình hình chấp hành các quy định, các thể lệ thanh toán, trên cơ sở tôn trọng pháp luật của nhà nước ban hành và luật trong kinh doanh quốc tế.
Thông qua quá trình kiểm tra, đánh giá, người ta có được cơ sở định hướng để nghiên cứu sâu hơn ở các bước sau, nhằm làm rõ các vấn đề mà doanh nghiệp cần quan tâm. - Xác định các nhân tố ảnh hưởng: Sự biến động của chỉ tiêu là do ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố gây nên, do đó ta phải xác định trị số của nhân tố và tìm nguyên nhân gây nên biến động của trị số nhân tố đó. - Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác tiềm năng: Phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ đánh giá kết quả chung chung, mà cũng không chỉ dừng lại ở chỗ xác định nhân tố và tìm nguyên nhân, mà phải từ cơ sở nhận thức đó phát hiện các tiềm năng cần được khai thác, và những chỗ còn tồn tại yếu kém, nhằm đề xuất giải pháp phát huy thế mạnh và khắc phục điểm yếu ở doanh nghiệp.