Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Thúy có tiêu đề "Kế toán quản trị với việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp lữ hành Việt nam". Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh môi trường kinh doanh du lịch chịu nhiều áp lực cạnh tranh và biến động bất định, đòi hỏi các nhà quản lý doanh nghiệp phải có hệ thống thông tin kế toán quản trị (KTQT) phục vụ công tác điều hành và ra quyết định kịp thời. Về mặt thực tiễn, ngành du lịch Việt Nam triển khai "Chiến lược phát triển du lịch Việt nam đến năm 2030" theo Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22 tháng 01 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ, với các mục tiêu cụ thể: đóng góp trực tiếp 15 - 17% vào GDP, tổng thu từ khách du lịch đạt 3.200 nghìn tỷ đồng (tương đương 130 - 135 tỷ USD), tạo ra khoảng 8,5 triệu việc làm (gồm 3 triệu việc làm trực tiếp), đón tối thiểu 50 triệu lượt khách quốc tế và 160 triệu lượt khách nội địa. Để hiện thực hóa các định hướng trên, các doanh nghiệp lữ hành cần vận dụng những công cụ quản lý hiện đại nhằm kiểm soát và nâng cao hiệu quả hoạt động (HQHĐ).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác lập xuất phát từ thực trạng học thuật trong nước: các nghiên cứu và giáo trình KTQT tại Việt Nam phần lớn mới tiếp cận KTQT chi phí hoặc đánh giá hiệu quả tại các trung tâm trách nhiệm thông qua một số chỉ số tài chính truyền thống, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện việc thực hiện KTQT để đánh giá HQHĐ tổng thể của doanh nghiệp qua 4 khâu công việc hoàn chỉnh (xác lập chỉ số, thu thập dữ liệu, xử lý - phân tích dữ liệu và cung cấp thông tin), đồng thời chưa có công trình chuyên sâu về KTQT đánh giá HQHĐ áp dụng riêng cho đối tượng doanh nghiệp lữ hành tại Việt Nam.
Mục tiêu chung của luận án là hệ thống hóa và làm rõ lý luận chung về KTQT với việc đánh giá HQHĐ trong doanh nghiệp, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình này, khảo sát thực trạng tại các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam, từ đó đề xuất các khuyến nghị và giải pháp hoàn thiện. Bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Hệ thống hóa và làm rõ thêm lý luận về KTQT với việc đánh giá HQHĐ của doanh nghiệp.
- Khám phá thực trạng thực hiện KTQT để đánh giá HQHĐ của doanh nghiệp lữ hành Việt Nam hiện nay.
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện KTQT để đánh giá HQHĐ của doanh nghiệp lữ hành Việt Nam.
- Đưa ra các khuyến nghị và giải pháp liên quan đến thực hiện KTQT để đánh giá HQHĐ cho các doanh nghiệp lữ hành tại Việt Nam.
Luận án đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu tương ứng:
- Nội dung KTQT với việc đánh giá HQHĐ của DN và các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện KTQT để đánh giá HQHĐ của DN?
- Thực trạng thực hiện KTQT để đánh giá HQHĐ trong các DN lữ hành Việt nam hiện nay như thế nào?
- Các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của chúng đến việc thực hiện KTQT để đánh giá HQHĐ của các DN lữ hành Việt nam?
- Cần có những giải pháp, khuyến nghị nào nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện KTQT để đánh giá HQHĐ trong các DN lữ hành Việt nam?
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận, thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện KTQT để đánh giá HQHĐ của các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về nội dung bao quát 4 khâu công việc của KTQT đánh giá HQHĐ và các nhân tố ảnh hưởng. Phạm vi không gian gồm 148 doanh nghiệp lữ hành tại Việt Nam thuộc các hình thức sở hữu, chia làm hai nhóm: nhóm doanh nghiệp quy mô lớn (doanh thu trên 300 tỷ đồng/năm, lao động trên 100 người, đã niêm yết trên sàn chứng khoán như Vietravel - Chi nhánh Hà Nội, Du lịch Bến Thành, Vietourist) và nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa (HanoiTourism, Suntravel, Xuân Sơn, Nam Cường); tác giả không khảo sát các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp tư nhân siêu nhỏ. Phạm vi thời gian thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát nằm trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 hướng tiếp cận chính:
Hướng thứ nhất, các nghiên cứu về kế toán quản trị tiếp cận như công cụ hỗ trợ ra quyết định: Trên thế giới, các tác giả Johnson và Kaplan (1987), Chenhall và Langfield-Smith (1998), Abdel và Luther (2008), Carenzo và Turolla (2010), Ahmad (2012) đã phân chia KTQT thành 4 nhóm kỹ thuật: quản trị chi phí, dự toán ngân sách, đánh giá HQHĐ và phân tích thông tin ra quyết định. Báo cáo của IFAC (1998) chỉ rõ 4 giai đoạn tiến hóa của KTQT. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về KTQT chia thành ba nhánh: tổ chức KTQT chung hoặc từng phần hành cụ thể (Phạm Thị Kim Vân 2002, Đoàn Xuân Tiên 2002, Văn Thị Thái Thu 2008, Hoàng Văn Tưởng 2010, Phạm Thị Tuyết Minh 2015, Bùi Tiến Dũng 2018, Phan Hương Thảo 2019, Đào Thị Hương 2020, Cao Huyền Trang 2020, Nguyễn Thanh Huyền 2020); nội dung KTQT toàn diện (Phạm Văn Dược 1997, Phạm Ngọc Toàn 2010, Ngụy Thu Hiền 2013, Nguyễn Minh Thành 2017); và KTQT phần hành chi phí, doanh thu (Phạm Thị Thủy 2007, Vũ Thị Kinh Anh 2012, Đào Thúy Hà 2015, La Soa 2016, Đặng Nguyên Mạnh 2020, Nguyễn Thị Nhinh 2021). Các nghiên cứu này cho thấy KTQT tại Việt Nam thường tiếp cận theo tiến trình thông tin, nhưng mảng đánh giá HQHĐ đa chiều toàn doanh nghiệp còn bị xem nhẹ.
Hướng thứ hai, các nghiên cứu về đánh giá hiệu quả hoạt động: Tác giả phân loại thành ba cách tiếp cận. Nhóm một phát triển từ Thẻ điểm cân bằng (BSC) của Kaplan và Norton (1992, 1996), gồm Sim và Koh (2001), Ittner và Larcker (1998a), Gumbus và Lyron (2002), Ismail (2007), Raffaele Fiorentino (2010); ở Việt Nam có Vũ Thùy Dương (2017) nghiên cứu ngành may (đề xuất 30 chỉ tiêu cho doanh nghiệp lớn, 18 chỉ tiêu cho DNNVV) và Vũ Thị Sen (2018) nghiên cứu bệnh viện công lập Tây Bắc (5 khía cạnh: Sứ mệnh 9 tiêu chí, Khách hàng 10 tiêu chí, Quy trình nội bộ 8 tiêu chí, Đào tạo & phát triển 4 tiêu chí, Tài chính 11 tiêu chí). Nhóm hai tiếp cận HQHĐ theo hiệu suất và hiệu năng sử dụng nguồn lực (Nguyễn Ngọc Tiến 2015 đối với doanh nghiệp du lịch Bình Định; Nguyễn Thị Thanh Hải 2015 đối với doanh nghiệp xây dựng GTVT). Nhóm ba tiếp cận HQHĐ theo chuỗi giá trị nhân - quả (Diệp Tố Uyên 2019 vận dụng mô hình Brown 1996 cho ngành giấy với 4 nhóm chỉ tiêu: đầu vào 9 chỉ tiêu, sản xuất 6 chỉ tiêu, tiêu thụ 5 chỉ tiêu, tổng thể 14 chỉ tiêu). Bên cạnh đó, các nghiên cứu kế toán trách nhiệm (KTTN) của Gordon (1963), Sollenberger (1990), Gharayba (2011), Nguyễn Thị Minh Phương (2013), Nguyễn Hữu Phú (2014), Trần Trung Tuấn (2015), Cao Huyền Trang (2020) chủ yếu đánh giá hiệu quả ở cấp bộ phận/trung tâm trách nhiệm.
Hướng thứ ba, các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng KTQT và hệ thống chỉ số đo lường thành quả: Các nghiên cứu quốc tế như Haldma và Lääts (2002), Hoque và James (2000), Basheikh và Abdel-Maksoud (2005), Garengo và Bititci (2007), Tuan Mat (2010), Ahmad (2012) chỉ ra ảnh hưởng của quy mô, công nghệ sản xuất, quản trị chất lượng toàn diện (TQM), cạnh tranh thị trường, cơ cấu tổ chức, văn hóa doanh nghiệp. Tại Việt Nam, các công trình của Đoàn Ngọc Phi Anh (2012), Tung và cộng sự (2011), Trần Ngọc Hùng (2016), Vũ Mạnh Chiến và Nguyễn Thị Thúy (2016), Lê Thị Tú Oanh và cộng sự (2019), Võ Văn Nhị và Nguyễn Thị Huyền Trâm (2020), Ngô Thị Trà (2021) xác nhận tác động của quy mô, văn hóa, chiến lược, công nghệ thông tin, sự hỗ trợ của nhà quản trị và trình độ nhân viên kế toán.
Vị trí của luận án: Kế thừa các thành tựu trên, luận án giải quyết khoảng trống học thuật bằng cách kết hợp khung lý thuyết BSC với tiến trình 4 khâu công việc của KTQT nhằm đánh giá HQHĐ tổng thể toàn doanh nghiệp, đồng thời bổ sung khía cạnh trách nhiệm xã hội/cộng đồng địa phương và kiểm định định lượng các nhân tố tác động tại các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên các nền tảng lý thuyết và khung phân tích sau:
- Lý thuyết tình huống (Contingency Theory): Được sử dụng làm lý thuyết nền tảng chính (Sơ đồ 1.5), giải thích rằng không có một hệ thống KTQT nào phù hợp cho mọi doanh nghiệp trong mọi hoàn cảnh; việc thiết kế và vận hành KTQT đánh giá HQHĐ phụ thuộc vào các biến ngẫu nhiên bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
- Khung 4 giai đoạn phát triển của KTQT theo IFAC (1998): Giai đoạn 1 (trước 1950) tập trung xác định chi phí và kiểm soát tài chính (FIFO, LIFO); Giai đoạn 2 (1965-1985) mở rộng sang lập kế hoạch và kiểm soát quản lý (chi phí cận biên, kế toán trách nhiệm); Giai đoạn 3 (1985-1995) giảm thiểu lãng phí trong quy trình kinh doanh (ABC, BSC); Giai đoạn 4 (sau 1995) tạo lập giá trị thông qua sử dụng hiệu quả nguồn lực, công nghệ, định hướng khách hàng và đổi mới cấu trúc.
- Khái niệm kế toán quản trị: Luận án tổng hợp các định nghĩa của Atkinson và cộng sự (2012), Hilton và Platt (2014), Tuan Mat (2010), xác định KTQT là quá trình nhận diện, đo lường, thu thập, phân tích, xử lý và truyền đạt thông tin (cả tài chính và phi tài chính) cho nhà quản lý phục vụ điều hành và ra quyết định.
- Phân biệt HQKD và HQHĐ: Hiệu quả kinh doanh (HQKD) là phạm trù phản ánh mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và kết quả đầu ra theo công thức $HQKD = \frac{\text{Kết quả đầu ra}}{\text{Yếu tố đầu vào}}$, chủ yếu dựa trên thước đo tài chính sau một kỳ. Hiệu quả hoạt động (HQHĐ) được định nghĩa là phạm trù phản ánh mức độ hoàn thành mục tiêu ở tất cả các hoạt động mà doanh nghiệp đã thực hiện trong kỳ, được đánh giá bằng cách so sánh kết quả của các chỉ số tài chính và phi tài chính với mục tiêu đề ra.
- Khung phân tích 4 khâu công việc của KTQT đánh giá HQHĐ (Hình 1.2): (1) Xác lập hệ thống các chỉ số đánh giá; (2) Thu thập dữ liệu phục vụ đánh giá; (3) Xử lý dữ liệu, phân tích thông tin; (4) Cung cấp thông tin về HQHĐ tổng thể toàn doanh nghiệp.
- Mô hình chỉ số đa chiều: Dựa trên mô hình gốc Balanced Scorecard (Kaplan và Norton, 1992) và điều chỉnh bổ sung cho phù hợp đặc thù lữ hành, bao gồm 5 khía cạnh: Tài chính, Khách hàng, Quy trình kinh doanh nội bộ, Học hỏi & phát triển, và Trách nhiệm của doanh nghiệp với cộng đồng địa phương.
| Khía cạnh |
Mục tiêu cốt lõi |
Các chỉ số đánh giá tiêu biểu trích xuất từ y văn |
Tác giả, công trình trích dẫn trong văn bản |
| Tài chính (TC) |
Tăng trưởng doanh thu, kiểm soát chi phí, sinh lời |
- Tỷ lệ tăng doanh thu tổng thể và theo sản phẩm/dịch vụ - Tỷ lệ doanh thu sản phẩm/dịch vụ trong tổng doanh thu - Tỷ suất sinh lời: ROA, ROE, ROI, EBIT, lợi nhuận sau thuế |
Ahmad & Seet (2009); Waweru & Spraakman (2012); Ng và cộng sự (2013); Hsu và cộng sự (2011); Shirokova và cộng sự (2013); Philips & Louvieris (2005) |
| Khách hàng (KH) |
Mức độ hài lòng, lòng trung thành, uy tín |
- Mức độ hài lòng, số lượng khiếu nại của khách hàng - Số lần mua lặp lại, số khách hàng thường xuyên bị mất - Số khách hàng mới, số năm quan hệ lâu dài |
Sousa & Aspinwall (2010); Azmat & Samaratunge (2013); Laukkanen và cộng sự (2014); Fernández & Prado (2007); Hegazy & Hegazy (2012); Yu (2011) |
| Quy trình nội bộ (QT) |
Đổi mới sản phẩm, cải tiến cách làm |
- Số sản phẩm mới đưa vào thị trường trong kỳ - Số sản phẩm cung cấp trong bao bì mới thiết kế riêng - Tỷ lệ doanh thu từ sản phẩm mới, số cách thức hoạt động mới |
Baregheh và cộng sự (2009, 2012); Hristov & Reynolds (2015); Saunila và cộng sự (2014); Löfsten (2014); McAdam và cộng sự (2010); Csath (2012) |
| Học hỏi & phát triển (HH) |
Đào tạo nhân sự, nghiên cứu và phát triển |
- Số khóa học ngắn hạn cho nhân viên - Tỷ lệ chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) trên tổng chi phí quản lý |
Jayawarna và cộng sự (2007); Laforet (2011); Shirokova và cộng sự (2013); Löfsten (2014); Loewe & Chen (2007) |
| Trách nhiệm cộng đồng (TN) |
Tuân thủ pháp luật, đóng góp xã hội |
- Số lần bị cơ quan thuế xử phạt, số lần nộp thuế đúng hạn - Số lần bị xử phạt bởi chính quyền, lệ phí môn bài - Số lần bị phạt bởi cơ quan giám sát, chuẩn ISO, môi trường - Số lượng hiệp hội ngành tham gia, số việc làm cho người thiểu số |
Isaac Mabhungu (2017); Selvam M. (2016) |
Phương pháp nghiên cứu thực tế kết hợp hai hướng tiếp cận:
- Phương pháp định tính: Nghiên cứu tài liệu học thuật và văn bản quy phạm pháp luật nhằm chuẩn hóa khung lý luận. Phỏng vấn sâu các chuyên gia, nhà quản lý doanh nghiệp, kế toán trưởng và nhân viên kế toán nhằm khảo sát nhu cầu thông tin, tìm hiểu thực tế quy trình tính toán chỉ số, hiệu chỉnh thang đo và xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm.
- Phương pháp định lượng: Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát điều tra diện rộng đối với 148 doanh nghiệp lữ hành. Quy trình phân tích dữ liệu trên phần mềm chuyên dụng gồm: thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ, giá trị trung bình), đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích ma trận tương quan Pearson, phân tích hồi quy tuyến tính đa biến (kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến qua hệ số VIF), và phân tích phương sai ANOVA.
- Nguồn tư liệu, dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp thu thập từ báo cáo thống kê ngành du lịch, Niên giám thống kê, các quyết định chiến lược của Chính phủ (Quyết định 147/QĐ-TTg), dữ liệu lượng khách quốc tế 2015-2019, cơ cấu doanh thu các doanh nghiệp lữ hành 2017-2021. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp tại 148 doanh nghiệp lữ hành Việt Nam trong giai đoạn 2017-2021.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về kế toán quản trị với việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về KTQT và HQHĐ. Tác giả phân tích lịch sử tiến hóa của KTQT qua 4 giai đoạn của IFAC (1998), chỉ ra rằng KTQT đã chuyển dịch từ chức năng xác định chi phí thuần túy sang cung cấp thông tin kiểm soát, giảm thiểu lãng phí và tạo lập giá trị doanh nghiệp. Luận án phân tích chi tiết hai nhóm chỉ số đánh giá:
- Chỉ số tài chính: Tập trung đo lường khả năng sinh lời (ROA, ROE, ROI), tăng trưởng doanh thu, biên lợi nhuận gộp, EBIT. Tác giả phân tích các hạn chế cố hữu của chỉ số tài chính theo tổng kết của Henri (2004): phản ánh kết quả quá khứ, không có khả năng dự báo tương lai, hướng vào mục tiêu ngắn hạn, không đo lường được tài sản vô hình và không cung cấp tín hiệu kịp thời cho quyết định tác nghiệp.
- Chỉ số phi tài chính: Gồm mức độ hài lòng khách hàng, tỷ lệ khiếu nại, lòng trung thành, sản phẩm đổi mới, đào tạo nhân viên, tuân thủ pháp luật và trách nhiệm cộng đồng. Tác giả chỉ ra 3 ưu điểm (liên kết với chiến lược dài hạn, định lượng tài sản vô hình, dự báo hiệu quả tài chính tương lai) và 3 nhược điểm (không có mẫu số đo lường chung, thiếu độ tin cậy thống kê nếu mẫu đo lường nhỏ, và nguy cơ phân rã đo lường - "measurement disintegration" khi sử dụng quá nhiều chỉ số).
Tác giả đề xuất quy trình 4 khâu công việc của KTQT đánh giá HQHĐ (Hình 1.2): Xác lập hệ thống chỉ số -> Thu thập dữ liệu -> Xử lý dữ liệu, phân tích thông tin -> Cung cấp thông tin. Chương 1 phân tích chi tiết chủ thể thu thập dữ liệu (kế toán trưởng/kế toán tổng hợp ở DNNVV; bộ phận KTQT chuyên trách phối hợp phòng kinh doanh, marketing ở doanh nghiệp lớn) và thời điểm thu thập (định kỳ tháng, quý, năm sau khi khóa sổ hoặc thu thập tức thời sau mỗi đơn hàng/chương trình tour du lịch). Đồng thời, tác giả xây dựng mô hình lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng dựa trên lý thuyết tình huống.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu thực nghiệm của luận án (Sơ đồ 2.1). Nội dung chương bao gồm:
- Thiết kế nghiên cứu định tính: Tiến hành thu thập tài liệu học thuật và xây dựng dàn ý phỏng vấn sâu chuyên gia, kế toán trưởng, giám đốc lữ hành nhằm điều chỉnh mô hình lý thuyết. Tác giả thực hiện mã hóa các chỉ số đánh giá (Bảng 2.2) và mã hóa các biến quan sát thuộc các yếu tố ảnh hưởng đến vận dụng KTQT (Bảng 2.3).
- Thiết kế nghiên cứu định lượng: Thiết kế phiếu điều tra khảo sát với thang đo Likert. Quy trình điều tra mẫu gồm 148 doanh nghiệp lữ hành Việt Nam, được phân chia theo quy mô (doanh nghiệp lớn và DNNVV) và loại hình sở hữu.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Trình bày quy trình kiểm định thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA để gom nhóm các biến quan sát, kiểm định tương quan Pearson, chạy mô hình hồi quy tuyến tính bội để xác định hệ số tác động và mức độ giải thích $R^2$, kiểm định phương sai ANOVA và kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến thông qua hệ số phóng đại phương sai (VIF).
Chương 3: Kết quả nghiên cứu về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện kế toán quản trị để đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp lữ hành tại Việt Nam
Chương 3 công bố các kết quả khảo sát và kiểm định thống kê:
- Tổng quan về doanh nghiệp lữ hành: Trình bày đặc điểm hoạt động kinh doanh (kinh doanh chương trình du lịch trọn gói, đại lý lữ hành), quy trình kinh doanh chương trình du lịch (Sơ đồ 3.1), tổ chức bộ máy quản lý và tổ chức công tác kế toán. Phân tích số liệu khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2015-2019 (Biểu đồ 3.2), tăng trưởng thị trường khách năm 2019 (Bảng 3.1), cơ cấu doanh thu giai đoạn 2017-2021 (Bảng 3.2, 3.3, 3.4) và số lượng khách phục vụ giai đoạn 2017-2019 (Bảng 3.5). Thống kê mẫu theo tuổi doanh nghiệp (Biểu đồ 3.1), quy mô lao động và doanh thu (Biểu đồ 3.2).
- Thực trạng KTQT đánh giá HQHĐ tại 148 DN lữ hành: Thống kê cơ sở xác lập hệ thống chỉ số (Bảng 3.2); đo lường mức độ sử dụng các chỉ số tài chính (Bảng 3.3); mức độ sử dụng chỉ số khách hàng (Bảng 3.4); mức độ sử dụng chỉ số quy trình kinh doanh nội bộ (Bảng 3.5); mức độ sử dụng chỉ số học hỏi và phát triển (Bảng 3.6); mức độ sử dụng chỉ số trách nhiệm cộng đồng địa phương (Bảng 3.7); và bảng tổng hợp các loại thông tin cung cấp (Bảng 3.8). Tác giả so sánh tác dụng của hệ thống chỉ số giữa nhóm doanh nghiệp quy mô lớn và DNNVV (Biểu đồ 3.3).
- Kết quả kiểm định các yếu tố ảnh hưởng:
- Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha (Bảng 3.9): Tất cả các thang đo biến độc lập và biến phụ thuộc đều đạt độ tin cậy yêu cầu. Biến quan sát "Nhà quản lý cấp cao cung cấp đầy đủ nguồn lực cho việc tổ chức KTQT để đánh giá HQHĐ của DN" thuộc nhóm Cam kết nhà quản lý được kiểm định độ tin cậy cao.
- Phân tích nhân tố khám phá EFA (Bảng 3.10) gom các biến quan sát thành các nhóm nhân tố tác động: Nhận thức của nhà quản lý (NT), Cam kết của nhà quản lý cấp cao (CC), Trình độ nhân viên kế toán (TD), Chiến lược kinh doanh (CL), Hệ thống công nghệ thông tin (CNTT), Quy mô doanh nghiệp (QM), Môi trường kinh doanh (MTKD), Văn hóa doanh nghiệp (VH).
- Phân tích tương quan Pearson và mô hình hồi quy tuyến tính (Bảng 3.11, 3.12, 3.13): Mô hình có ý nghĩa thống kê qua kiểm định ANOVA (Bảng 3.12). Bảng 3.13 chỉ ra hệ số hồi quy của các yếu tố có tác động thuận chiều đến việc vận dụng KTQT đánh giá HQHĐ, đồng thời hệ số VIF của các biến đều nhỏ hơn giới hạn đa cộng tuyến. Biểu đồ Histogram kiểm tra phân phối chuẩn của phần dư (Biểu đồ 3.4).
Chương 4: Các bàn luận và khuyến nghị, giải pháp về thực hiện kế toán quản trị để đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp lữ hành tại Việt Nam
Chương 4 tập trung bàn luận về kết quả nghiên cứu và xây dựng giải pháp:
- Bàn luận kết quả: So sánh đối chiếu thực trạng thực hiện KTQT đánh giá HQHĐ giữa nhóm doanh nghiệp lữ hành quy mô lớn và DNNVV; giải thích sự chênh lệch trong mức độ áp dụng các chỉ số phi tài chính; luận bàn về mức độ tác động của từng nhân tố từ kết quả mô hình hồi quy.
- Định hướng và nguyên tắc: Căn cứ vào định hướng phát triển du lịch theo Quyết định 147/QĐ-TTg và các yêu cầu mang tính nguyên tắc khi thiết kế hệ thống chỉ số đánh giá.
- Hệ thống khuyến nghị và giải pháp:
- Đề xuất hệ thống chỉ số đánh giá HQHĐ chuẩn hóa: Bảng 4.1 thiết lập hệ thống chỉ số chi tiết cho các doanh nghiệp lữ hành quy mô lớn; Bảng 4.2 thiết lập hệ thống chỉ số tinh gọn cho các doanh nghiệp lữ hành quy mô nhỏ và vừa.
- Hoàn thiện 4 khâu công việc KTQT: Chuẩn hóa quy trình thu thập dữ liệu tài chính và phi tài chính; hoàn thiện phương pháp xử lý dữ liệu và phân tích chênh lệch so với mục tiêu; đa dạng hóa hình thức lập báo cáo đánh giá HQHĐ định kỳ và đột xuất.
- Khuyến nghị nâng cao vai trò của nhà quản lý (nâng cao nhận thức NT, gia tăng cam kết nguồn lực CC), bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho nhân viên kế toán (TD), tăng cường ứng dụng phần mềm kế toán và hệ thống ERP/CNTT.
- Xác định điều kiện thực hiện: Phân định rõ trách nhiệm từ phía cơ quan quản lý Nhà nước (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Bộ Tài chính về cơ chế hướng dẫn KTQT) và từ phía nội bộ các doanh nghiệp lữ hành.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án chỉ ra các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Về mặt lý luận: Luận án bổ sung và hoàn thiện lý luận về KTQT với việc đánh giá HQHĐ trong doanh nghiệp. Khác với các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào một kỹ thuật đơn lẻ hoặc đánh giá tại các trung tâm trách nhiệm, luận án phát triển khung đánh giá HQHĐ tổng thể toàn doanh nghiệp tích hợp theo 4 khâu công việc liên hoàn: (1) Xác lập hệ thống chỉ số; (2) Thu thập dữ liệu; (3) Xử lý, phân tích thông tin; (4) Cung cấp thông tin. Đồng thời, luận án mở rộng khung Thẻ điểm cân bằng (BSC) bằng việc bổ sung khía cạnh "Trách nhiệm của doanh nghiệp với cộng đồng địa phương" để phản ánh đặc thù hoạt động du lịch lữ hành.
- Về mặt thực tiễn: Luận án phản ánh bức tranh thực trạng việc thực hiện KTQT để đánh giá HQHĐ tại 148 doanh nghiệp lữ hành Việt Nam trong giai đoạn 2017-2021. Kết quả kiểm định định lượng đã chứng minh các yếu tố nhận thức của nhà quản lý cấp cao, cam kết của nhà quản lý, trình độ nhân viên kế toán, chiến lược kinh doanh, hệ thống công nghệ thông tin, quy mô doanh nghiệp, môi trường kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp có ảnh hưởng đến việc thực hiện KTQT đánh giá HQHĐ.
- Về mặt ứng dụng và giải pháp đề xuất: Luận án thiết kế hai bộ chỉ số đánh giá HQHĐ riêng biệt: bộ chỉ số cho doanh nghiệp lữ hành quy mô lớn (Bảng 4.1) và bộ chỉ số cho doanh nghiệp lữ hành quy mô nhỏ và vừa (Bảng 4.2). Luận án đề xuất quy trình tổ chức thu thập, xử lý và lập báo cáo thông tin kế toán quản trị, đồng thời đưa ra các điều kiện thực hiện cụ thể đối với cơ quan quản lý nhà nước và bản thân doanh nghiệp lữ hành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về phạm vi mẫu khảo sát: Luận án chỉ khảo sát 148 doanh nghiệp lữ hành nội địa (gồm doanh nghiệp lớn và DNNVV), chưa khảo sát các doanh nghiệp lữ hành có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hoạt động tại Việt Nam và các doanh nghiệp tư nhân có quy mô siêu nhỏ.
- Về phương pháp thu thập mẫu: Do điều kiện khảo sát thực tế, việc lấy mẫu được thực hiện thuận tiện tại một số doanh nghiệp ở các thành phố lớn (như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh), chưa bao phủ đầy đủ tất cả các tỉnh thành trên cả nước.
- Về bối cảnh nghiên cứu: Giai đoạn thu thập dữ liệu (2017-2021) trùng với thời điểm bùng phát đại dịch Covid-19, dẫn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp lữ hành chịu sự gián đoạn nghiêm trọng, các chỉ số tài chính và lượng khách có sự sụt giảm bất thường so với điều kiện hoạt động bình thường.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát đối với các doanh nghiệp lữ hành có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam để so sánh sự khác biệt trong áp dụng KTQT giữa khối doanh nghiệp nội địa và khối FDI.
- Khảo sát mở rộng mẫu tại các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành chuyên biệt (như du lịch sinh thái, lữ hành quốc tế outbound/inbound chuyên sâu) và mở rộng phạm vi địa lý trên nhiều vùng du lịch khác nhau.
- Nghiên cứu đo lường tác động dài hạn của việc áp dụng toàn diện hệ thống chỉ số BSC đến kết quả tài chính và năng lực phục hồi của các doanh nghiệp lữ hành sau giai đoạn khủng hoảng.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán và Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành: Luận án cung cấp khung tài liệu tham khảo về phương pháp luận kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng trong KTQT. Khung lý thuyết 4 khâu công việc KTQT đánh giá HQHĐ (Hình 1.2), bảng tổng hợp các chỉ số y văn (Bảng 1.1) và thang đo khảo sát thực nghiệm là tài liệu phục vụ cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu tiếp theo.
- Đối với nhà quản trị và bộ phận kế toán tại các doanh nghiệp lữ hành: Các giám đốc điều hành và kế toán trưởng có thể vận dụng trực tiếp Bảng 4.1 (dành cho doanh nghiệp lớn) hoặc Bảng 4.2 (dành cho DNNVV) để thiết lập hệ thống chỉ số đánh giá HQHĐ phù hợp với nguồn lực của đơn vị mình. Luận án cung cấp hướng dẫn rõ ràng về chủ thể thu thập dữ liệu, thời điểm khóa sổ/báo cáo và phương pháp tính toán từng chỉ số.
- Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Hiệp hội Du lịch Việt Nam, Bộ Tài chính): Luận án cung cấp cứ liệu thực tiễn về thực trạng quản trị tại các doanh nghiệp lữ hành, hỗ trợ việc xây dựng các chính sách đào tạo nguồn nhân lực kế toán, ban hành hướng dẫn áp dụng KTQT phù hợp với đặc thù ngành kinh doanh dịch vụ du lịch.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm "Hiệu quả kinh doanh" (HQKD) và "Hiệu quả hoạt động" (HQHĐ) như thế nào?
Theo tác giả, HQKD phản ánh hiệu quả của hoạt động kinh doanh sau một kỳ nhất định, đo lường thuần túy bằng các chỉ số tài chính dựa trên tỷ số giữa kết quả đầu ra và yếu tố đầu vào ($HQKD = \frac{\text{Kết quả đầu ra}}{\text{Yếu tố đầu vào}}$). Ngược lại, HQHĐ là phạm trù phản ánh mức độ hoàn thành mục tiêu của nhà quản lý ở tất cả các hoạt động mà doanh nghiệp đã thực hiện trong kỳ, được đánh giá bằng cách so sánh kết quả của cả chỉ số tài chính và chỉ số phi tài chính với mục tiêu đề ra.
2. Khung hệ thống chỉ số đánh giá HQHĐ của luận án bao gồm những khía cạnh nào?
Luận án phát triển khung đánh giá dựa trên mô hình Balanced Scorecard (BSC) gồm 5 khía cạnh: (1) Tài chính (doanh thu, lợi nhuận, ROA, ROE, ROI); (2) Khách hàng (sự hài lòng, khiếu nại, lòng trung thành, khách hàng mới); (3) Quy trình kinh doanh nội bộ (sản phẩm mới, bao bì thiết kế riêng, cải tiến quy trình); (4) Học hỏi và phát triển (đào tạo nhân viên, chi phí R&D); và (5) Trách nhiệm của doanh nghiệp với cộng đồng địa phương (tuân thủ thuế, quy định môi trường, tham gia hiệp hội ngành, giải quyết việc làm).
3. Đối tượng khảo sát thực nghiệm của luận án gồm những doanh nghiệp nào?
Luận án khảo sát 148 doanh nghiệp lữ hành Việt Nam, được phân chia thành 2 nhóm: nhóm doanh nghiệp quy mô lớn (doanh thu trên 300 tỷ đồng/năm, lao động trên 100 người, đã niêm yết trên sàn chứng khoán như Vietravel - Chi nhánh Hà Nội, Du lịch Bến Thành, Vietourist) và nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa (HanoiTourism, Suntravel, Xuân Sơn, Nam Cường). Luận án không khảo sát các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp tư nhân siêu nhỏ.
4. Quy trình thực hiện kế toán quản trị để đánh giá HQHĐ tổng thể doanh nghiệp gồm những khâu nào?
Quy trình gồm 4 khâu công việc tuần tự: (1) Xác lập hệ thống các chỉ số đánh giá dựa trên mục tiêu của nhà quản trị; (2) Thu thập dữ liệu phục vụ đánh giá (phân định trách nhiệm giữa kế toán trưởng, nhân viên kế toán và các phòng ban liên quan); (3) Xử lý dữ liệu, phân tích thông tin về HQHĐ (so sánh thực tế với mục tiêu và kỳ trước); (4) Cung cấp thông tin về HQHĐ tổng thể toàn doanh nghiệp thông qua hệ thống báo cáo quản trị.
5. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc thực hiện KTQT để đánh giá HQHĐ trong các doanh nghiệp lữ hành?
Các nhân tố được luận án kiểm định gồm: Nhận thức của nhà quản lý cấp cao (NT), Cam kết của nhà quản lý cấp cao (CC), Trình độ nhân viên kế toán (TD), Chiến lược kinh doanh (CL), Hệ thống công nghệ thông tin (CNTT), Quy mô doanh nghiệp (QM), Môi trường kinh doanh (MTKD) và Văn hóa doanh nghiệp (VH). Các nhân tố này đều có tác động thuận chiều đến việc vận dụng KTQT đánh giá HQHĐ tại doanh nghiệp lữ hành.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Thị Thúy đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về kế toán quản trị với việc đánh giá hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp, xây dựng quy trình 4 khâu công việc kết hợp hệ thống chỉ số tài chính và phi tài chính trên 5 khía cạnh. Thông qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp khảo sát 148 doanh nghiệp lữ hành tại Việt Nam giai đoạn 2017-2021, công trình đã làm rõ thực trạng áp dụng KTQT và lượng hóa tác động của các nhân tố quản trị, công nghệ và môi trường đến quá trình này. Kết quả nghiên cứu cung cấp hai bộ chỉ số đánh giá thực hành cho doanh nghiệp lữ hành quy mô lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo cơ sở khoa học cho công tác quản trị nội bộ doanh nghiệp và hoạch định chính sách ngành du lịch.