PHẦN MỞ ĐẦU 1. Bối cảnh nghiên cứu * Về lý luận: Bối cảnh môi trường kinh doanh biến động phức tạp, khó dự đoán đã khiến cho các nhà quản lý doanh nghiệp (DN) gặp khó khăn trong quá trình ra quyết định, điều hành hoạt động kinh doanh, do đó, các DN cần có một hệ thống thông tin quản lý hiệu quả để hỗ trợ cho nhà quản lý trong việc ra quyết định. Kế toán quản trị (KTQT) là một trong những công cụ quản lý hữu hiệu cho các nhà quản lý DN nhằm mục đích đưa ra được những quyết định chính xác và kịp thời (Nguyễn Minh Thành, 2017). Bên cạnh đó, đặc trưng của nền kinh tế toàn cầu là môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp và không chắc chắn, các DN phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt, phải thay đổi mình để có thể thích nghi, tồn tại và phát triển.
Mục tiêu mà tất cả các DN đều hướng đến là hiệu quả hoạt động (HQHĐ) được cải thiện liên tục, và chỉ có thông qua HQHĐ, các DN mới có thể đánh giá được sự phát triển của mình (Omar và Zineb, 2019). Do đó, đánh giá HQHĐ là rất quan trọng, luôn được đội ngũ các nhà quản lý quan tâm (Kaplan và Norton 1992, 1996; Neely và cộng sự., 2001; Maisel, 2001; Raffaele, 2010; Omar và Zineb, 2019). Không chỉ có vậy, vấn đề đánh giá HQHĐ trong môi trường kinh tế hiện nay cũng là một vấn đề quan trọng đối với các nhà nghiên cứu, vì cho đến nay, việc đánh giá HQHĐ còn có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Khá nhiều mô hình – được xem là các kỹ thuật của KTQT để đánh giá HQHĐ của DN như Thẻ điểm cân bằng (tiếng Anh là Balanced Scorecard – BSC của Kaplan và Norton, 1982), Lăng kính thành quả (tiếng Anh là Performance Prism của Neely và cộng sự, 2001), Điểm chuẩn (tiếng anh là Benchmarking của Robert Camp, 1989), …Các kỹ thuật KTQT này đã được trình bày trong các sách/giáo trình KTQT trên thế giới (như “Performance Measurement & Management_A strategic approach to management accounting” của Malcolm Smith (2005); “Essential tools for management accounting” do tổ chức KTQT toàn cầu CGMA – Chartered Global Managemet Accountant (2013) biên soạn; và “Review of Management Accouting Resarch” của Abdel (2011)), nhưng nội dung các mô hình này còn mang tính khái quát cao, khó ứng dụng vào thực tế.
Ở Việt nam, việc nghiên cứu “Hiệu quả hoạt động” một cách chuyên sâu và rõ ràng trong KTQT chưa rõ nét. Nội dung các sách, giáo trình KTQT ở Việt nam đều chưa được các nhà khoa học đề cập đến việc đánh giá HQHĐ của DN một cách tổng thể, toàn diện, đa chiều, mới chỉ hướng đến đánh giá HQHĐ của các trung tâm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 trách nhiệm qua một số chỉ số tài chính (Huỳnh Lợi, 2009; Nguyễn Ngọc Quang, 2010; Phạm Ngọc Toàn, 2010; Trần Thị Hồng Mai và cộng sự, 2020). Hơn thế nữa, các nghiên cứu về KTQT trong các DN Việt nam cho thấy mức độ áp dụng các kỹ thuật KTQT nói chung còn thấp, các kỹ thuật KTQT truyền thống vẫn được sử dụng phổ biến hơn so với các kỹ thuật KTQT hiện đại. Hầu hết các DN Việt nam mới chỉ đánh giá HQHĐ qua các chỉ số tài chính, sau đó so sánh với kỳ trước (Giang Thị Xuyến, 2002, Ngụy Thu Hiền, 2013), chỉ một số ít DN ứng dụng kỹ thuật KTQT hiện đại (như Thẻ điểm cân bằng - BSC) để đánh giá HQHĐ, đã quan tâm đến các chỉ số phi tài chính như mức độ hài lòng của khách hàng, tỷ lệ sản phẩm sai hỏng, …) (Ngụy Thu Hiền, 2013; Nguyễn Minh Thành, 2017; Bùi Tiến Dũng, 2018).
Do đó, việc tiếp cận nghiên cứu một cách toàn diện về thực hiện KTQT để đánh giá HQHĐ tổng thể của DN vẫn còn bỏ ngỏ. * Về thực tiễn: Các DN du lịch nói chung, các DN lữ hành tại Việt nam nói riêng đang thực hiện đổi mới hoạt động kinh doanh theo “Chiến lược phát triển du lịch Việt nam đến năm 2030” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22 tháng 01 năm 2020. Để đạt được mục tiêu đến năm 2030: Du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn và phát triển bền vững; Việt Nam trở thành điểm đến đặc biệt hấp dẫn, thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới, đáp ứng đầy đủ yêu cầu và mục tiêu phát triển bền vững; Tổng thu từ khách du lịch đạt 3.200 nghìn tỷ đồng (tương đương 130 - 135 tỷ USD), tăng trưởng bình quân 11 - 12%/năm; đóng góp trực tiếp vào GDP đạt 15 - 17%; Tạo ra khoảng 8,5 triệu việc làm, trong đó có khoảng 3 triệu việc làm trực tiếp, tăng trưởng bình quân 8 - 9%/năm; Phấn đấu đón được ít nhất 50 triệu lượt khách quốc tế và 160 triệu lượt khách nội địa; duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân về khách quốc tế từ 8 - 10%/năm và khách nội địa từ 5 - 6%/năm; Các DN du lịch phải thực hiện đồng bộ 9 giải pháp. Trong đó, các DN lữ hành phải xây dựng chiến lược kinh doanh cho từng giai đoạn nhằm góp phần phát triển và đa dạng hóa thị trường khách du lịch, phát triển sản phẩm du lịch.
Để đáp ứng được mục tiêu này, việc vận dụng các công cụ, các kỹ thuật hiện đại trong quản lý nhằm phục vụ cho việc ra quyết định là nhu cầu cấp bách. Trong hệ thống các công cụ, thì KTQT là công cụ quan trọng. KTQT từ lâu đã đóng vai trò là kênh thông tin tài chính cung cấp cho nhà quản lý để hỗ trợ cho việc ra quyết định; Các công cụ KTQT hiện đại giúp cho việc cung cấp thông tin trở nên hữu ích hơn khi thông tin bao gồm cả thông tin tài chính và phi tài chính. Tuy nhiên, triển TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 khai KTQT trong việc đánh giá HQHĐ cả về lý luận và thực tiễn còn nhiều hạn chế.
Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng thực hiện KTQT để đánh giá HQHĐ của các DN lữ hành nhằm đưa ra những giải pháp, khuyến nghị giúp các DN này thực hiện có hiệu quả là cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Bên cạnh đó, theo hiểu biết của nghiên cứu sinh, tính đến thời điểm hiện nay, chưa có nghiên cứu nào về thực hiện KTQT để đánh giá HQHĐ tại các DN lữ hành Việt nam. Xuất phát từ bối cảnh nêu trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Kế toán quản trị với việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp lữ hành Việt nam” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình. Tổng quan nghiên cứu và xác lập vấn đề nghiên cứu 2.
Tổng quan nghiên cứu 2. Các nghiên cứu về kế toán quản trị (tiếp cận là công cụ hỗ trợ cho việc ra quyết định) KTQT xuất hiện đầu tiên ở Mỹ từ những năm đầu của thế kỷ XIX, và trải qua nhiều thời kỳ, KTQT đã phát triển lan rộng tại các nước Châu Âu, Châu Á, các kỹ thuật KTQT đã nhanh chóng phát triển để phục vụ cho việc ra quyết định và kiểm soát quản lý tốt hơn (Johnson và Kaplan, 1987). IFAC (1998) đã chỉ ra bốn giai đoạn phát triển của KTQT, trong mỗi giai đoạn đều xuất hiện những kỹ thuật KTQT mới để đáp ứng yêu cầu thông tin của nhà quản lý trong bối cảnh nền kinh tế của giai đoạn đó. Vì vậy, cho đến nay đã có rất nhiều các kỹ thuật KTQT được áp dụng trong các tổ chức khác nhau.
Các nghiên cứu sau này về việc vận dụng KTQT trong các DN thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau ở các quốc gia khác nhau thường chia các kỹ thuật KTQT thành 4 nhóm: (1) Hệ thống kế toán chi phí và quản trị chi phí; (2) Lập dự toán ngân sách của DN; (3) Đánh giá hiệu quả hoạt động; (4) Phân tích thông tin phục vụ cho việc ra quyết định ngắn hạn và dài hạn (Chenhall và Langfield-Smith, 1998; Abdel và Luther, 2008; Ahmad, 2012); Đây chính là cách phân loại KTQT theo các chức năng của nó, ở mỗi nhóm đều bao gồm cả các kỹ thuật KTQT truyền thống và KTQT hiện đại. Chenhall và Langfield-Smith (1998) đã thực hiện khảo sát 140 nhà quản lý của các DN sản xuất ở Úc về việc sử dụng các kỹ thuật KTQT truyền thống và hiện đại (gồm 42 kỹ thuật KTQT). Những kỹ thuật này được chia thành 4 nhóm chính theo chức năng: Lập kế hoạch, xây dựng dự toán; Chi phí sản xuất, đánh giá HQHĐ thông qua hệ thống chỉ số đánh giá; Và phân tích thông tin thích hợp phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các DN sản xuất ở Úc đang áp dụng các kỹ thuật KTQT truyền thống nhiều hơn so với các kỹ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 thuật KTQT hiện đại; Tuy nhiên, một số DN cho biết họ đã có ý định sử dụng các kỹ thuật KTQT hiện đại như chi phí dựa trên hoạt động (để kiểm soát chi phí tốt hơn) và thẻ điểm cân bằng (để đánh giá HQHĐ) trong tương lai nhằm cung cấp thông tin chính xác, đa chiều hơn cho nhà quản lý DN.
Cùng hướng nghiên cứu này, Carenzo và Turolla (2010) đã thực hiện khảo sát ở các DN sản xuất của Ý về việc áp dụng các kỹ thuật KTQT để hỗ trợ cho việc ra quyết định của nhà quản lý: Kết quả chỉ ra rằng: các DN sản xuất ở Ý chủ yếu áp dụng các kỹ thuật KTQT truyền thống (Dự toán 64,21%, Phân tích chênh lệch 58,59%, các chỉ số tài chính 55,05%), một số ít DN sử dụng các kỹ thuật KTQT nâng cao (ABC 12,63%, và Target costing 9,09% để kiểm soát chi phí; BSC 10,10% và Benchmarking 5,56% để đánh giá HQHĐ) và ngày càng tăng các DN sử dụng các chỉ số phi tài chính (Các chỉ số về sự hài lòng của khách hàng 15,66%; các chỉ số nguồn lực nhân sự 13,64%). Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu của Ahmad (2012) tại 1000 DNNVV trong lĩnh vực sản xuất ở Malaysia cho thấy: Các kỹ thuật KTQT như KTQT chi phí, xây dựng dự toán, đánh giá HQHĐ thông qua hệ thống chỉ số đánh giá và phân tích thông tin thích hợp phục vụ cho việc ra quyết định đều đã được sử dụng trong thực tiễn; Trong đó, việc sử dụng các kỹ thuật KTQT chi phí, xây dựng dự toán và đánh giá HQHĐ cao hơn đáng kể so với các kỹ thuật phân tích thông tin thích hợp hỗ trợ ra quyết định; Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng KTQT được coi là đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản lý các DNNVV của Malaysia, trong đó, việc đánh giá HQHĐ thông qua hệ thống chỉ số đánh giá đóng vai trò chính.