MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Trước năm 1986 khi nền kinh tế nước ta còn là nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, trong hệ thống lý luận cũng như thực tiễn về kế toán người ta chỉ sử dụng duy nhất khái niệm “kế toán” để nói về hệ thống kế toán doanh nghiệp. Hiện nay, kinh tế đất nước đã và đang phát triển mạnh mẽ theo xu hướng đa dạng hoá các thành phần kinh tế, đặc biệt là có sự tham gia của các công ty liên doanh, công ty cổ phần, công ty có vốn đầu tư nước ngoài… làm cho hệ thống kế toán trong các doanh nghiệp đã ít nhiều có sự thay đổi nhằm đảm bảo thực hiện được vai trò quan trọng của nó. Xuất phát từ những yêu cầu của thực tế, đòi hỏi kế toán không chỉ cung cấp những thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp mà còn phải cung cấp thông tin cụ thể về chi phí, giá thành, doanh thu và kết quả của doanh nghiệp để các nhà quản trị doanh nghiệp có kiểm tra, ra quyết định về giá cả, đầu tư và lựa chọn phương án sản xuất. Chính vì vậy kế toán quản trị đã ra đời và tồn tại cho đến nay như một tất yếu khách quan.
KTQT nói chung và KTQT về chi phí, giá thành nói riêng trong các doanh nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thiết lập hệ thống thông tin một cách chi tiết phục vụ cho việc điều hành và quản lý nội bộ doanh nghiệp. Tuy nhiên, do đặc thù về hoàn cảnh ra đời cũng như mục đích trong việc cung cấp thông tin, cho đến nay khái niệm về KTQT nói chung và KTQT chi phí, giá thành nói riêng vẫn còn là một vấn đề tương đối mới mẻ trong hầu hết các doanh nghiệp. Điều này cho thấy công tác về quản trị trong hệ thống kế toán ở nước ta còn chưa thật phát huy được vai trò của mình, đòi hỏi các nhà quản lý doanh nghiệp phải luôn có cái nhìn đúng đắn để có thể sử dụng thông tin một cách hữu ích nhất và ra quyết định một cách chính xác nhất. Việt Nam là một nước có lợi thế rất lớn về địa lý, nằm ngay trên trung tâm đường hàng hải quốc tế nên dễ dàng giao lưu kinh tế với các quốc gia trên 1 Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Chung-KEB50 thế giới, đặc biệt nước ta còn có tới trên 3.200km đường bờ biển, 12 cửa sông và nhiều cảng lớn (Hải phòng, Đà Nẵng, Cái Lân…) đáp ứng đủ tiêu chuẩn quốc tế và hơn 2 triệu km2 thềm lục địa, 4 triệu km2 mặt nước, do đó công nghiệp chế tạo, đóng mới tàu thuỷ nước ta lại càng có điều kiện phát triển mạnh.Tuy nhiên, công cuộc cải cách kinh tế cùng sự hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam đã đặt ra một thách thức to lớn đối với nhà máy đóng tàu trong nước, đòi hỏi toàn ngành phải nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh.
Công ty CPCNTT Nam Hà là công ty đóng mới sửa chữa tàu thuỷ thuộc Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam. Để kịp được sự phát triển và sự phát triển của ngành tàu thuỷ nói riêng, Công ty cần phải có chính sách và những bước đi vững chắc, hiệu quả làm cơ sở cho sự tăng trưởng cũng như sự phát triển vững mạnh của Công ty. Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Nam Hà”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.
Mục tiêu chung Tìm hiểu công tác KTQT chi phí, giá thành tại Công ty cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Nam Hà, từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện KTQT chi phí, giá thành tại Công ty. Mục tiêu cụ thể - Trình bày các vấn đề lý luận và cơ sở thực tiễn về KTQT chi phí, giá thành - Tìm hiểu công tác KTQT chi phí, giá thành tại Công ty cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Nam Hà. - Đánh giá thực trạng KTQT chi phí, giá thành tại Công ty. 2 Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Chung-KEB50 - Đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác KTQT tại Công ty cổ phần công nghịêp tàu thuỷ Nam Hà.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là kế toán quản trị chi phí sản xuất, giá thành tại Công ty cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Nam Hà. Phạm vi nghiên cứu - Nội dung: Đề tài đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu về tình hình công tác KTQT chi phí, giá thành tại Công ty cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Nam Hà. - Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tại Công ty cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Nam Hà.
- Phạm vi thời gian: + Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 1/2009 đến hết tháng 4/2009. + Số liệu sử dụng trong đề tài được thu thập trong phạm vi 3 năm 2006 – 2008 và kế hoạch năm 2009. 3 Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Chung-KEB50 II - TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan tài liệu 2.1 Tổng quan về kế toán quản trị 2.1 Khái niệm và mục đích của kế toán quản trị * Khái niệm về kế toán quản trị Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghịêp, kế toán góp phần rất quan trọng vào công tác quản lý các hoạt động kinh tế, tài chính.
Việc thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về tình hình thu nhập, chi phí, so sánh thu nhập với chi phí để xác định kết quả là một trong những yêu cầu của KTTC. Song doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm, kinh doanh nhiều loại hàng hoá, dịch vụ khác nhau, muốn biết chi phí, thu nhập và kết quả của từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ nhằm tổng hợp lại trong một cơ cấu hệ thống kế toán phục vụ cho yêu cầu của quản trị doanh nghiệp thì KTTC không đáp ứng được yêu cầu này. Do đó, các doanh nghiệp tổ chức hệ thống KTQT để trước hết nhằm xây dựng các dự toán chi phí, dự toán thu nhập và kết quả của từng loại sản phẩm hang hoá, dịch vụ. Sau đó phải tiến hành theo dõi, kiểm tra suốt quá trình chi phí sản xuất, mua bán hàng hoá dịch vụ, tính toán giá thành sản phẩm, giá vốn hàng mua, hàng bán, doanh thu và kết quả của từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ để đáp ứng yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp.
Xuất phát điểm của KTQT là kế toán chi phí, nghiên cứu chủ yếu về quá trình tính toán giá phí sản phẩm như giá phí tiếp liệu, giá phí sản xuất nhằm đề ra các quyết định cho phù hợp, xác định giá trị hàng tồn kho và kết quả kinh doanh theo từng hoạt động. Dần dần cùng với sự phát triển của khoa học quản lý nói chung, khoa học kế toán cũng có những bước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt từ năm 1957 trở lại đây, nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới đã đi sâu nghiên cứu, áp dụng và sử dụng những thông tin kế toán phục vụ cho yêu cầu quản lý. Sự phát triển mạnh mẽ của kế toán đã đặt ra hướng nghiên 4 Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Chung-KEB50 cứu các công cụ kiểm soát và lập kế hoạch, thu nhận và xử lý thông tin phục vụ cho công việc ra quyết định gọi là KTQT. Cho đến nay đã tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về KTQT.
Hiton, giáo sư Đại học Cornell (Mỹ): “KTQT là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong tổ chức mà nhà quản trị dựa vào để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức” [2].Garrison: “KTQT có liên hệ với việc cung cấp các tài liệu cho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệm trong việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó” [2]. Theo các giáo sư Đại học South Florida: “KTQT là một hệ thống kế toán cung cấp cho các nhà quản trị những thông tin định lượng mà họ cần để hoạch định và kiểm soát” [2]. Theo luật Kế toán Việt Nam: “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” [4]. Theo từ điển thuật ngữ kế toán Mỹ: “KTQT là lĩnh vực kế toán liên quan đến thu thập và xử lý các thông tin kinh tế nhằm hỗ trợ những nhà quản lý trong việc đưa ra các quyết định tài chính đặc biệt trong hoạch định kế hoạch và quản lý giá thành” [5].
Theo hiệp hội kế toán viên Hoa Kỳ năm 1982: “KTQT là quy trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập bảng biểu, giải thích và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá, theo dõi việc thực hiện trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp và để đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này” [6]. Từ những quan điểm trên, có thể hiểu KTQT là một khoa học thu thập, xử lý và cung cấp những thông tin định lượng về hoạt động của đơn vị một cách cụ thể, giúp các nhà quản lý trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị. Như vậy, cùng với sự xuất hiện của nền kinh tế thị trường, KTQT đã ra đời và trở thành công cụ quan trọng trợ giúp cho những người làm công tác 5 Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Chung-KEB50 quản lý ra quyết định sản xuất kinh doanh và là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp. * Mục đích của kế toán quản trị KTQT là loại kế toán dành riêng cho các nhà quản lý, trợ giúp cho việc ra quyết định theo từng tình huống cụ thể.
Các quyết định của nhà quản lý hầu hết đều liên quan đến vấn đề chi phí (tiêu dùng nguồn lực) và giá trị thu được (lợi ích) do các chi phí tạo ra. Vì vậy mục tiêu của kế toán quản trị tập trung vào hai mục tiêu chủ yếu sau: - Nhằm liên kết giữa việc tiêu dùng các nguồn lực (chi phí) và nhu cầu tài trợ với các nguyên nhân của việc tiêu dùng các nguồn lực đó (chi phí phát sinh) để thực hiện các mục đích cụ thể của đơn vị.