Đặt vấn đề Phát triển nông thôn toàn diện đang là vấn đề cấp bách hiện nay trên phạm vi cả nƣớc. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ định hƣớng phát triển nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn tới là "Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông thôn với thành thị giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội, phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ an ninh quốc phòng". Những năm gần đây, các hoạt động nông nghiệp cùng với những hoạt động dịch vụ, sinh hoạt đã làm xuất hiện nhiều vấn đề môi trƣờng có tính chất đan xen lẫn nhau và ở nhiều nơi, nhiều chỗ đã và đang trở thành bức xúc. Những vấn đề này gây tác động mạnh mẽ và lâu dài đến các hệ sinh thái nông nghiệp và nông thôn.
Nó hạn chế tính năng sản xuất của các thành phần môi trƣờng, giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, cản trở sự phát triển bền vững. Vùng nông thôn ở nƣớc ta có những nét đặc thù riêng và chất lƣợng môi trƣờng có những thay đổi khác nhau do ở mỗi vùng có những đặc điểm về điều kiện kinh tế xã hội khác nhau. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của cả nƣớc nói chung và của tỉnh Thái Nguyên nói riêng, Phú Lƣơng là huyện nằm ở phái bắc của tỉnh Thái Nguyên và là huyện đang có các bƣớc phát triển mạnh, đời sống dân nhân ngày càng đƣợc nâng cao về vật chất, tinh thần. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó là dấu hiệu của ô nhiễm môi trƣờng, nguồn tài nguyên chƣa đƣợc khai thác có hiệu quả mà nhu cầu sử dụng đất đai ngày càng lớn.
Xã Đống Đạt huyện Phú Lƣơng là một ví dụ điển hình. Vậy phải làm thế nào để đảm bảo hài hoà giữa lợi ích kinh tế xã hội và n 2 bền vững về môi trƣờng. Trong những năm qua, huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên nói chung và xã Động Đạt nói riêng đã tiến hành thực hiện chƣơng trình “Nông thôn mới” với 19 tiêu chí theo bộ tiêu chí quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nông thôn tại địa phƣơng. Với sự lỗ lực cố gắng của đảng bộ chính quyền địa phƣơng cùng toàn thể nhân dân trong huyện, chƣơng trình cũng đã dần dần thực hiện, nhờ đó mà kinh tế tăng trƣởng, đời sống vật chất, tinh thần của ngƣời dân trong huyện đang đƣợc cải thiện và nâng cao rõ rệt, Và đi song song với việc phát kiển kinh tế chính quuyền cũng đẩy mạnh việc bảo vệ môi trƣờng nhƣng vẫn còn gạp rất nhiều khó khăn trong công tác thực hiên.
Để tìm hiểu vấn đề trên em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá hiện trạng thu gom và sử lý rác thải sinh hoạt rắn tại xã Động Đạt huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên” 1. Mục tiêu của đề tài Đánh giá hiện trạng thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt rắn nhẳm tìm ra những thuận lợi khó khăn trong công tác quản lý môi trƣờng nói chung và việc xử lý rác thải sinh hoạt nói giêng để giúp thực hiên tốt việc phát triển bền vững và bảo vệ môi trƣờng. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá đƣợc hiện trạng thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt rắn tại xã Động Đạt huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên - Đánh giá đƣợc khó khăn tồn tại chủ yếu trong quá trình thực hiện việc thu gom và sử lý rác thải rắn trong sinh hoạt tại xã Đông Đạt huyện Phú Lƣơng tinh Thái Nguyên - Đề xuất giải pháp giúp cả thiện việc thu gom và sử lý rác thải sinh hoạt rắn tai xã Động Đạt huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên n 3 1. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập nghiên cứu khoa học - Đề tài giúp em có cơ hội để áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn nâng cao chuyên môn có kinh nghiệm cho công việc sau này khi ra trƣờng - Nâng cao kiến thức thực tế. - Qua đợt thực tập em học đƣợc: tính tổ chức, kỷ luật trong nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm đối với công việc đƣợc giao, phát huy tính tích cực trong học tập. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá đƣợc hiện trạng thu gom và sử lý rác thải sinh hoạt rắn tại xã Động Đạt huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên - Đề xuất giải pháp giúp cả thiện việc thu gom và sử lý rác thải sinh hoạt rắn tai xã Động Đạt huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1Cơ sở khoa học 2.1Tổng quan chất thải rắn 2. Theo quy định tại khoản 12 điều 3 luật BVMT 2014 thì: “Chất thải là vật chất đƣợc thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác” [7].
Phụ thuộc vào các tiêu chí khác nhau, chất thải có thể đƣợc phân chia thành các loại nhƣ sau: - Căn cứ vào nguồn phát sinh: có thể chia thành 3 loại: chất thải sinh hoạt, chất thải y tế, chất thải công nghiệp. - Căn cứ vào trạng thái tồn tại của chất thải có thể chia thành: Chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí và các chất thải ở trạng thái khác. - Căn cứ vào độ độc hại của chất thải, chia thành 2 loại: chất thải thông thƣờng và chất thải nguy hại. Các hoạt động kinh tế - xã hội của con ngƣời Các quá Các quá Hoạt động Các hoạt Các hoạt sống và tái động giao trình sản trình phi sinh của con động quản tiếp và đối xuất sản xuất ngƣời lý ngoại Chất thải Dạng lỏng Dạng khí Dạng rắn Bùn Chất lỏng Hơi Chất thải Các loại cống dầu mỡ độc sinh hoạt khác Hình 2.
Chất thải rắn. Theo Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý CTR (3). - Hoạt động quản lý CTR bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý, đầu tƣ xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lƣu trữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời. - CTR là chất thải ở thể rắn, đƣợc thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
CTR bao gồm CTR thông thƣờng và CTR nguy hại. - CTR sinh hoạt là chất thải phát sinh trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng. - Phế liệu là sản phẩm, vật liệu bị loại ra trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dung đƣợc phục hồi để tái chế, tái sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm khác. - Thu gom CTR là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lƣu giữ tạm thời CTR tại nhiều điểm thu gom tới thời điểm hoặc cơ sở đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền chấp nhận.
- Lƣu giữ CTR là việc giữ CTR trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi cơ quan có thẩm quyền chấp nhận trƣớc khi chuyển đến cơ sở xử lý. - Vận chuyển CTR là quá trình chuyên chở CTR từ nơi phát sinh, thu gom, lƣu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng. - Xử lý CTR là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong CTR; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong CTR. n 6 - Chôn lấp CTR hợp vệ sinh là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp CTR hợp vệ sinh.
- Phân loại rác tại nguồn: Là việc phân loại rác ngay từ khi mới thải ra hay còn gọi là từ nguồn. Đó là một biện pháp nhằm thuận lợi cho công tác xử lý về sau. - Rác là thuật ngữ dùng để chỉ CTR hình dạng tƣơng đối cố định, bị vứt bỏ từ hoạt động của con ngƣời. Rác sinh hoạt hay CTR sinh hoạt là một bộ phận của CTR, đƣợc hiểu là CTR phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con ngƣời.
- Chất thải là sản phẩm đƣợc sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con ngƣời, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, dịch vụ, thƣơng mại, sinh hoạt gia đình, trƣờng học, khu dân cƣ, nhà hàng, khách sạn. Ngoài ra, còn phát sinh trong giao thông vận tải nhƣ khí thải của các phƣơng tiện giao thông, chất thải kim loại hóa chất và từ các vật liệu khác. - Tái chế chất thải: thực chất là ngƣời ta lấy lại những phần vật chất của sản phẩm hàng hóa cũ và sử dụng các nguyên liệu này để tạo ra sản phẩm mới. - Tái sử dụng chất thải: thực chất có những sản phẩm hoặc nguyên liệu có quãng đời sử dụng kéo dài, ngƣời ta có thể sử dụng đƣợc nhiều lần mà không bị thay đổi hình dạng vật lý, tính chất hóa học (Nguyễn Thế Chinh, 2003) (4).
Có nhiều cách phân loại chất thải khác nhau. Việc phân loại chất thải hiện nay chƣa có quy định chung thống nhất, tuy nhiên bằng những nhìn nhận thực tiễn của hoạt động kinh tế và ý nghĩa của nghiên cứu quản lý đối với chất thải, có thể chia ra các cách phân loại sau đây: - Phân loại theo nguồn gốc phát sinh: + Chất thải từ các hộ gia đình hay còn gọi là chất thải hay rác thải sinh hoạt đƣợc phát sinh từ các hộ gia đình. n 7 + Chất thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thƣơng mại: Là những chất thải có nguồn gốc phát sinh từ các ngành kinh tế công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. - Phân loại chất thải theo thuộc tính vật lý: CTR, chất thải lỏng, chất thải khí.
- Phân loại chất thải theo tính chất hóa học: theo cách này ngƣời ta chia chất thải dạng hữu cơ, vô cơ hoặc dựa theo đặc tính của vật chất nhƣ chất thải dạng kim loại, chất dẻo, thủy tinh, giấy, bìa,…. - Phân loại theo mức độ nguy hại đối với con ngƣời và sinh vật: chất thải độc hại, chất thải đặc biệt. Mỗi cách phân loại có một mục đích nhất định nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu, sử dụng hay kiểm soát và quản lý chất thải có hiệu quả (Nguyễn Thế Chinh, 2003) (4).