MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Nƣớc là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trƣờng, quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của đất nƣớc. Con ngƣời đã từng coi tài nguyên nƣớc là vô hạn, chính vì thế đã sử dụng nƣớc một cách lãng phí, thiếu hiệu quả. Không những vậy với hoạt động sống của con ngƣời ngày càng cao, các nguồn nƣớc mặt, nƣớc ngầm bị ô nhiễm nặng nề dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Đó là: Bệnh tật, đói nghèo, chiến tranh… Do thiếu nƣớc sạch.
Loài ngƣời đang đứng trƣớc nguy cơ thiếu nƣớc nghiêm trọng. Vì vậy, để có thể bảo vệ nguồn tài nguyên nƣớc khỏi bị suy thoái, cạn kiệt giúp cho việc quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả, phục vụ cho đô thị, trƣớc hết các địa phƣơng, các ngành không ngừng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thông qua đó, mỗi tổ chức cũng nhƣ ngƣời dân nâng cao nhận thức tầm quan trọng của nƣớc sạch đối với cuộc sống, đồng thời có ý thức đối với hành động, việc làm của mình để không gây thêm sự suy thoái, cạn kiệt. Tài nguyên nƣớc ở Việt Nam đƣợc đánh giá là rất đa dạng và phong phú, bao gồm cả nguồn nƣớc mặt và nƣớc ngầm ở các thủy vực tự nhiên và nhân tạo nhƣ sông, suối, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo, giếng khơi, hồ đập, ao, đầm phá và các túi nƣớc ngầm. Mặc dù tài nguyên nƣớc của Việt Nam có trữ lƣợng dồi dào, nhƣng trên thực tế nguồn nƣớc có thể sử dụng ngay lại có hạn vì phân bố không đều.
Nhiều vùng bị thiếu nƣớc sạch để sinh hoạt do ô nhiễm, lũ lụt, sạt lở đất, hạn hán và các tác nhân khác. Xã Tự Do là một xã thuộc huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng, kinh tế còn chậm phát triển, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Tuy vậy trong thời gian qua cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội thì vấn đề môi trƣờng của xã đang bộc lộ nhiều bất cập thậm. Môi trƣờng đất, môi trƣờng n 2 không khí, môi trƣờng nƣớc đang dần có dấu hiệu bị ô nhiễm, kéo theo đó là nguồn nƣớc sinh hoạt đang dần bị suy giảm.
Nguồn nƣớc dùng cho sinh hoạt tại xã chủ yếu là nƣớc khe và nƣớc giếng khoan, giếng đào và do kinh tế ở đây còn nhiều khó khăn. Xuất phát từ thực trạng chung của việc sử dụng nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân tại các vùng nông thôn, để đánh giá chất lƣợng nƣớc đang sử dụng tại địa phƣơng, tìm ra những nguyên nhân gây ảnh hƣởng tới nguồn nƣớc, qua đó đƣa ra một số giải pháp để khắc phục những nguy cơ ô nhiễm, đáp ứng nhu cầu sử dụng nƣớc sạch tại địa phƣơng. Đƣợc sự đồng ý của Ban Giám Hiệu nhà trƣờng, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trƣờng dƣới sự hƣớng dẫn của ThS. Dương Minh Ngọc.
Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng sử dụng và chất lượng nước sinh hoạt của các hộ gia đình tại xã Tự Do, huyện Quảng Uyên Tỉnh Cao Bằng’’. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Đánh giá hiện trạng môi trƣờng nƣớc sinh hoạt tại xã xã Tự Do, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng đê từ đó tìm ra những nguyên nhân gây ảnh hƣởng tới môi trƣờng nƣớc và để xuất giải pháp phòng ngừa, xử lý nhằm giảm thiểu các tác nhân gây có thể gây ra ô nhiễm nguồn nƣớc sinh hoạt tại địa phƣơng. Mục tiêu cụ thể - Nắm đƣợc tình hình sử dụng nƣớc sinh hoạt trên địa bàn tại xã Tự Do, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
- Đánh giá hiện trạng môi trƣờng nƣớc sinh hoạt tại xã xã Tự Do, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng. - Tìm ra những nguyên nhân gây ảnh hƣởng tới môi trƣờng nƣớc sinh hoạt trên địa bàn tại xã Tự Do, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng. n 3 - Đề xuất một số biện pháp khắc phục, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm nƣớc sinh hoạt và cung cấp nƣớc sạch nhằm nâng cao chất lƣợng nƣớc sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu nƣớc sạch của ngƣời dân địa phƣơng. Yêu cầu của đề tài - Phản ánh đúng hiện trạng môi trƣờng nƣớc sinh hoạt tại xã Tự Do, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
- Đảm bảo tài liệu, số liệu đầy đủ, trung thực, khách quan. - Kết quả phân tích các thông số về chất lƣợng nƣớc chính xác. - Các mẫu nghiên cứu và phân tích phải đảm bảo tính khoa học và đại diện cho khu vực nghiên cứu. - Đảm bảo những kiến nghị, đề nghị đƣa ra tính khả thi, phù hợp với điều kiện địa phƣơng.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học + Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác nghiên cứu sau này. + Vận dụng và phát huy đƣợc các kiến thức học tập và nghiên cứu. + Nâng cao khả năng tự học tập, nghiên cứu và tìm tài liệu tham khảo.
Ý nghĩ trong thực tiễn + Đánh giá đƣợc chất lƣợng nƣớc sinh hoạt trên địa xã Tự Do, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng. Từ đó rút ra những nhận xét, kết luận làm cơ sở cho các biện pháp quản lý, bảo vệ môi trƣờng, những định hƣớng xây dựng phù hợp và đảm bảo cân bằng giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trƣờng. Tìm hiểu nguyên nhân gây ô nhiễm môi trƣờng nƣớc sinh hoạt, tìm ra biện pháp khắc phục và phòng tránh. + Nâng cao nhận thức của ngƣời dân về vấn đề bảo vệ môi trƣờng làm cơ sở lý thuyết cho các nhà quản lý, các nhà đầu tƣ và nghiên cứu.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Các khái niệm chung - Khái niệm môi trƣờng: Theo Luật Bảo vệ môi trƣờng của Việt Nam năm 2014 chƣơng 1, điều 1 xác định: “Môi trƣờng bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con ngƣời, có ảnh hƣởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại,phát triển của con ngƣời và thiên nhiên. * Chức năng của môi trƣờng: - Môi trƣờng là không gian sống của con ngƣời và các loài sinh vật.
- Môi trƣờng là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con ngƣời. - Môi trƣờng là nơi chứa đựng phế thải do con ngƣời tạo ra trong hoạt động sống và hoạt động sản xuất. - Chức năng giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con ngƣời và sinh vật trên trái đất. - Chức năng lƣu trữ và cung cấp thông tin cho con ngƣời.
* Khái niệm về ô nhiễm môi trƣờng: Theo Luật bảo vệ môi trƣờng Việt Nam năm 2014 thì ô nhiễm môi trƣờng là: Ô nhiễm môi trƣờng đƣợc hiểu là sự có mặt của các chất hoặc năng lƣợng với khối lƣợng lớn trong môi trƣờng mà môi trƣờng khó chấp nhận ( từ điển OXFORD). + Ô nhiễm môi trƣờng đất: Ô nhiễm đất là sự thay đổi thành phần, tính chất của đất gây ra bởi những tập quán phản vệ sinh của các hoạt động sản xuất nông nghiệp và những phƣơng thức canh tác khác nhau và do thải bỏ n 5 không hợp lý các chất cặn bã đặc và lỏng vào đất. Ngoài ra ô nhiễm đất còn do sự lắng đọng của các chất gây ô nhiễm không khí lắng xuống đất. + Ô nhiễm môi trƣờng nƣớc: Là sự thay đổi theo chiều hƣớng xấu đi các tính chất vật lý – hóa học – sinh hoc của nƣớc, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nƣớc trở nên độc hại với con ngƣời và sinh vật.
Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nƣớc. + Ô nhiễm môi trƣờng không khí: Là hiện tƣợng làm cho không khí sạch thay đổi thành phần và tính chất dƣới bất kỳ hình thức nào, có nguy cơ gây tác hại tới thực vật và động vật, gây hại đến sức khỏe con ngƣời và môi trƣờng xung quanh. Khí quyển có khả năng tự làm sạch để duy trì sự cân bằng giữa các quá trình. Những hoạt động của con ngƣời vƣợt quá khả năng tự làm sạch, có sự thay đổi bất lợi trong môi trƣờng không khí thì đƣợc xem là ô nhiễm môi trƣờng không khí.
+ Ô nhiễm tiếng ồn: Tiếng ồn là âm thanh không mong muốn hay âm thanh đƣợc phát ra không đúng lúc, đúng chỗ. Tiếng ồn là tổng hợp của nhiều thành phần khác nhau đƣợc tổng hợp trong sự cân bằng biến động. Mỗi thành phần có vai trò riêng trong việc gây ồn. Nó khác nhau với những ngƣời khác nhau, ở những địa điểm khác nhau và trong những khoảng thời gian không giống nhau.
Ô nhiễm tiếng ồn nhƣ một âm thanh không mong muốn bao hàm sự bất lợi làm ảnh hƣởng đến con ngƣời và môi trƣờng sống của con ngƣời, bao gồm đất đai, công trình xây dựng và động vật nuôi ở trong nhà. n 6 * Suy thoái môi trƣờng: Là sự suy giảm khả năng đáp ứng các chức năng của môi trƣờng: Mất nơi cƣ trú an toàn, cạn kiệt tài nguyên, xả thải quá mức, ô nhiễm. Nguyên nhân gây suy thoái môi trƣờng rất đa dạng: Sự biến động của tự nhiên theo hƣớng không có lợi cho con ngƣời, sự khai thác tài nguyên quá khả năng phục hồi, do mô hình phát triển chỉ nhằm vào tăng trƣởng kinh tế, sự gia tăng dân số, nghèo đói, bất bình đẳng. Quản lý môi trƣờng và phòng chống ô nhiễm: “Quản lý môi trƣờng là một hoạt động trong quản lý xã hội: có tác động điều chỉnh các hoạt động của con ngƣời dƣa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trƣờng có liên quan đến con ngƣời, xuất phát từ quan điểm định lƣợng, hƣớng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên”.
Quản lý môi trƣờng đƣợc thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp: Luật pháp, chính sách, kinh tế, công nghệ, xã hội, văn hóa, giáo dục… Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tùy theo điều kiện cụ thể của các vấn đề đặt ra. Việc quản lý môi trƣờng đƣợc thực hiện ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình… * Tiêu chuẩn môi trƣờng: Theo khoản 5 điều 3 Luật bảo vệ môi trƣờng Việt Nam 2014: “ Tiêu chuẩn môi trƣờng là giới hạn cho phép các thông số về chất lƣợng môi trƣờng xung quanh, về hàm lƣợng các chất gây ô nhiễm trong chất thải đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trƣờng”.