CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Hải Phòng là thành phố thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ, nằm về phía Đông Bắc Đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình, có diện tích khoảng 1.523 km2 với tọa độ: - Từ 20030’39” đến 21001’15” vĩ độ Bắc. - Từ 106023’39” đến 107008’39” kinh độ Đông.
Điểm cực Bắc qua thôn Phi Liệt, xã Lại Xuân, huyện Thủy Nguyên; điểm cực Nam qua xã Vĩnh Phong, huyện Vĩnh Bảo và điểm cực Đông là ranh giới trên biển giữa Hải Phòng-Quảng Ninh đi qua Vịnh Lan Hạ và phía Đông đảo Cát Bà. Ngoài ra còn đảo Bạch Long Vĩ nằm giữa Vịnh Bắc Bộ tại tọa độ 20008’ vĩ độ Bắc và 107044’ kinh độ Đông. Bắc và Đông Bắc giáp Quảng Ninh với chiều dài 54 km ngăn cách tự nhiên bởi sông Đá Bạch-Bạch Đằng. Phía Tây Bắc giáp Hải Dương với chiều dài 98 km.
Phía Tây Nam giáp Thái Bình trên 35 km dọc theo sông Hóa. Hải Phòng là thành phố cảng có trục đường sắt và đường bộ quan trọng, đặc biệt là hệ thống đường thủy liên hoàn rất thuận tiện cho giao thông vận tải. Hải Phòng có vị trí chiến lược quan trọng của cửa ngõ phía Đông miền Bắc. Địa hình, địa mạo Địa hình và địa mạo của Hải Phòng là do kết quả của sự vận động địa chất kéo dài hàng trăm triệu năm, cùng với quá trình bồi tụ phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình mà hình thành nên.
Có thể chia địa hình thành hai vùng chính: Phía Bắc Hải Phòng là vùng đồng bằng xen kẽ với đồi núi thấp, phía nam Hải Phòng có địa hình đồng bằng thuần túy. Đồi núi trong đất liền Hải Phòng cao trung bình 50 đến 100 m chiếm 10% tổng diện tích của thành phố, nhưng nằm rải ra ở khắp phần phía Bắc Hải Phòng Sinh viên: Trần Quang Anh - Lớp: MT1701 3 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân Lập Hải Phòng thành từng dải liên tục hoặc đứt quãng theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Vùng đồng bằng thuần túy bao gồm các huyện: An Dương, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo và phần lớn quận Kiến An, quận Đồ Sơn. Độ cao tuyệt đối của mặt đất thay đổi từ 2,5m đến 3,5m, và giảm dần từ Tây sang Đông.
Bề mặt chủ yếu được bao phủ bởi lớp sét pha, cát sa và phù sa bồi đắp. Trong vùng lẻ tẻ có nhiều ao, hồ, đầm và vùng đất bãi thường xuyên ngập nước thủy triều phân bố ở ven các sông lớn như sông Văn Úc, sông Lạch Tray, sông Thái Bình, sông Hóa. Đặc biệt, Hải Phòng có chiều dài bờ biển trên 125 km, lại có nhiều cửa sông lớn đổ ra nên lượng cát bùn hàng năm tải ra biển với một khối lượng đáng kể, đã tạo nên những bãi sa bồi lấn ra biển có nơi tới vài cây số, hình thành những rừng sú vẹt hoặc đã được cải tạo thành khu kinh tế mới như khu vực Trấn Dương (Vĩnh Bảo); Vinh Quang, Tiên Hưng, Đông Hưng, Tây Hưng (Tiên Lãng); Tân Trào (Kiến Thụy) và khu vực Đình Vũ… Với đặc điểm trên, địa hình, địa mạo ở Hải Phòng đã có ảnh hưởng quan trọng đến chế độ dòng chảy sông ngòi tại địa phương. Ở vùng núi đá vôi và vùng núi đồi thấp, quá trình tập trung nước nhanh hơn vùng đồng bằng, vùng đất bãi lại thường xuyên ngập nước thủy triều.
Độ nghiêng của địa hình theo hướng Tây Bắc – Đông Nam đã tạo thành độ dốc xuôi thuận cho dòng chảy khi nước thủy triều xuống. Hệ thống thủy văn Hệ thống sông Trên địa bàn thành phố, có 6 sông chính và 9 sông nhánh với tổng chiều 29 dài khoảng 300 km (Bảng 1. Sinh viên: Trần Quang Anh - Lớp: MT1701 4 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân Lập Hải Phòng Bảng 1. Các đặc trưng cơ bản một số sông ở Hải Phòng Chiều rộng Độ sâu Tốc độ dòng Chiều dài TT Tên sông trung bình trung bình chảy trung bình (km) (m) (m) (m/s) 1 Bạch Đằng 42 1000 8 0,7 2 Cấm 37 400 7 0,7 3 Văn Úc 38 400 8 1,2 4 Thái Bình 30 150 3 0,4 5 Luộc 18 120 4 0,8 6 Lạch Tray 43 120 4 0,7 Nguồn: wikipedia.org Phần lớn các sông của Hải Phòng là chi lưu của sông Hồng và sông Thái Bình đổ ra biển qua các cửa biển, tạo ra một vùng hạ lưu màu mỡ, dồi dào nước ngọt.
Các sông có hướng chảy chủ yếu là tây bắc-đông nam, độ uốn khúc lớn, bãi sông rộng, phù sa bồi đắp ngày càng nhiều, nhất là ở vùng cửa sông. Hệ thống sông ngòi Hải Phòng có nguồn cung cấp nước chủ yếu từ thượng nguồn, nước mưa trên lưu vực, nước ngầm và nước mặn từ biển chảy vào. Hàng năm, sông ngòi Hải Phòng tiếp nhận một lượng lớn nước từ các sôngthượng nguồn chảy về. Bên cạnh các chức năng cân bằng sinh thái, dự trữ nước ngọt, tưới tiêu, sông còn là nguồn nước cung cấp cho các nhà máy nước sạch của thành phố.
Ngoài các sông chính là các sông nhánh lớn nhỏ chia cắt khắp địa hình thành phố như sông Giá (Thuỷ Nguyên), sông Đa Độ (An Lão - Kiến An - Kiến Thụy - Dương Kinh - Đồ Sơn), sông Tam Bạc. Chế độ thuỷ văn của các sông gồm 2 mùa là mùa mưa và mùa khô: Mùa khô, thời điểm nước ròng, dòng chảy khu vực ven biển Hải Phòng có vận tốc khá nhỏ - khoảng 0,1 đến 0,2 m/s phân tán mạnh về hướng chảy. Khu vực sông Bạch Đằng có vận tốc 0,7-0,8 m/s và giảm dần đến Đình Vũ với vận tốc dòng chảy là 0,2-0,4 m/s. Phía Đông Bắc, có tốc độ dòng chảy trong mùa khô chỉ đạt từ 0,1-0,2 cm/s.
Mùa mưa, hướng dòng chảy chủ yếu là nam - đông nam với giá Sinh viên: Trần Quang Anh - Lớp: MT1701 5 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân Lập Hải Phòng trị vận tốc biến đổi từ 0,2-0,7m/s. Ở khu vực cửa sông Cấm - Bạch Đằng, nơi lưu lượng nước từ sông lớn nhất trong các sông đưa ra vùng ven biển, hầu như không có dòng chảy ngược từ biển vào. Giá trị vận tốc dòng chảy biến đổi trong khoảng từ 0,2-0,8m/s. Một số nơi do lòng dẫn hẹp như khu vực cửa Lạch Huyện, cửa Nam Triệu.
vận tốc dòng chảy có thể đạt đến giá trị trên 1,0m/s. Biển, bờ biển, hải đảo Vùng biển Hải Phòng là một bộ phận thuộc tây bắc vịnh Bắc bộ. Độ sâu của biển Hải Phòng không lớn. Độ sâu quanh mũi Đồ Sơn chỉ 2m và hạ xuống 5m ở cách bờ khá xa.
Ở đáy biển nơi có các cửa sông đổ ra, do sức xâm thực của dòng chảy nên độ sâu lớn hơn. Ra xa ngoài khơi, đáy biển hạ thấp dần theo độ sâu của vịnh Bắc Bộ, chừng 30 - 40m. Mặt đáy biển Hải Phòng được cấu tạo bằng thành phần mịn, có nhiều lạch sâu vốn là những lòng sông cũ nay dùng làm luồng lạch ra vào hàng ngày của tàu biển. Hải Phòng có đường bờ biển dài khoảng 125 km, có diện tích vùng biển khoảng 4.000 km2, gấp 2,6 lần diện tích đất liền của thành phố.
Ngoài khơi vùng biển của Hải Phòng có khoảng 366 đảo đá ven bờ, chiếm khoảng 5,4% diện tích thành phố; có đảo Bạch Long Vỹ nằm giữa Vịnh Bắc Bộ. Dọc 125 km chiều dài đường bờ biển có 5 cửa sông chính đổ ra biển, phân bố gần song song và cách nhau từ 20-27 km gồm: cửa sông Thái Bình, cửa sông Văn Úc, cửa sông Lạch Tray, cửa Bạch Đằng và cửa Lạch Huyện. Biển, bờ biển và hải đảo đã tạo nên cảnh quan thiên nhiên đặc sắc của thành phố duyên hải. Đây cũng là một thế mạnh tiềm năng của nền kinh tế địa phương.
Khí hậu Thời tiết Hải Phòng mang tính chất cận nhiệt đới ẩm, ấm đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt Nam: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều; mùa đông khô và lạnh, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt. Hải Phòng có đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa và đặc điểm riêng của vùng ven biển có nhiều hải đảo. Sinh viên: Trần Quang Anh - Lớp: MT1701 6 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân Lập Hải Phòng Nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa châu Á, sát biển Đông nên Hải Phòng chịu ảnh hưởng của gió mùa. Mùa gió bấc (mùa đông) lạnh và khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Gió mùa nồm (mùa hè) mát mẻ, nhiều mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1. Bão thường xảy ra từ tháng 6 đến tháng 9. Nhiệt độ không khí trung bình tại các trạm quan trắc (0C) Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 2011 17,2 19,2 20,3 22,2 26,9 29,1 29,2 27 27,2 24,6 21,7 19 2012 12,4 16,5 16,1 22,4 25,5 28,3 28,4 27,8 26,4 23,6 22,9 16,7 2013 14,1 15,5 19,1 24,3 27,4 28,8 28,3 27,9 26,5 25,4 22,4 18,6 2014 15,0 19,1 22,1 23,4 27,2 28,1 27,5 28,0 26,2 24,8 21,7 15,5 2015 17,3 18,5 21,4 24,0 28,9 29,7 28,9 28,7 27,2 25,6 23,6 17,7 Nguồn: Cục thống kê thành phố Hải Phòng, 2016 [1] Thời tiết của Hải Phòng có 2 mùa rõ rệt, mùa đông và mùa hè.
Khí hậu tương đối ôn hoà. Do nằm sát biển, về mùa đông, Hải Phòng ấm hơn 1 0C và về mùa hè mát hơn 10C so với Hà Nội. Nhiệt độ trung bình hàng tháng từ 20 - 230C, cao nhất có khi tới 400C, thấp nhất ít khi dưới 5 0C. Độ ẩm trung bình trong năm là 80% đến 85%, cao nhất là 100% vào những tháng 7, tháng 8, tháng 9, thấp nhất là vào tháng 12 và tháng 1.
Trong suốt năm có khoảng 1. Bức xạ mặt đất trung bình là 117 Kcal cm/phút. Sinh viên: Trần Quang Anh - Lớp: MT1701 7 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân Lập Hải Phòng Bảng 1.