Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá sơ bộ chất lượng nước sông Hệ thống trung thủy nông Tiên Lãng phục vụ cấp nước sinh hoạt" được thực hiện bởi sinh viên Trần Quang Anh (Lớp MT 1701, Ngành Kỹ thuật Môi trường, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng) dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Cẩm Thu vào năm 2017. Đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cấp bách về an ninh nguồn nước ngọt tại thành phố Hải Phòng nói chung và huyện Tiên Lãng nói riêng.

Thành phố Hải Phòng có diện tích tự nhiên 1.523 km², quy mô dân số khoảng 1,9 triệu người (mật độ bình quân 1.223 người/km²). Với mạng lưới sông ngòi có tổng chiều dài gần 280 km (mật độ khoảng 0,18 km/km²), các dòng sông tại Hải Phòng đều nằm ở khu vực hạ lưu châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình, chịu tác động trực tiếp của chế độ nhật triều phức tạp từ biển Đông. Do nằm ở vùng đồng bằng cửa sông ven biển, địa hình có độ dốc thấp, dòng chảy quanh co, hiện tượng xâm nhập mặn diễn ra sâu vào nội địa (từ 13 km đến 15 km khi triều dâng), làm thu hẹp đáng kể trữ lượng nước ngọt phục vụ sinh hoạt và phát triển kinh tế. Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, quá trình công nghiệp hóa và gia tăng dân số, tài nguyên nước mặt của thành phố đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng về cả trữ lượng lẫn chất lượng, đặc biệt là tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa kiệt và ô nhiễm nguồn nước thô.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể như sau:

  1. Thu thập, tổng hợp các tài liệu, số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng phát triển công nghiệp, nông nghiệp, làng nghề và y tế ảnh hưởng đến nguồn nước mặt thành phố Hải Phòng.
  2. Khảo sát thực tế, đánh giá sơ bộ hiện trạng chất lượng nước mặt tại Hệ thống trung thủy nông Tiên Lãng thông qua chuỗi số liệu quan trắc năm 2016 tại các vị trí đặc trưng.
  3. Phân tích các nguồn thải, nguyên nhân gây ô nhiễm và hiện trạng quản lý nguồn nước tại địa bàn nghiên cứu.
  4. Đánh giá những khó khăn, thách thức trong công tác bảo vệ môi trường theo Nghị quyết số 23/2013/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố; từ đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý nhằm quy hoạch, phân vùng và bảo vệ nguồn nước ngọt phục vụ cấp nước sinh hoạt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Môi trường nước mặt và chất lượng nước sông thuộc Hệ thống trung thủy nông Tiên Lãng.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ lưu vực Hệ thống trung thủy nông Tiên Lãng, bao gồm 2 khu vực độc lập Bắc - Nam sông Mới, phục vụ tưới tiêu, sản xuất và dân sinh cho 23 xã, thị trấn thuộc huyện Tiên Lãng cùng Công ty TNHH MTV Nông nghiệp Quý Cao. Địa điểm thực tập và thu thập dữ liệu là Trung tâm Quan trắc môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá dựa trên chuỗi số liệu quan trắc thực địa năm 2016 (đợt 1 vào tháng 8 - mùa mưa; đợt 2 vào tháng 11 - mùa khô), cùng các số liệu thống kê kinh tế - xã hội giai đoạn 2011–2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu đánh giá hiện trạng môi trường thực nghiệm và định lượng dựa trên chuỗi dữ liệu quan trắc hiện trường, kết hợp phân tích đối sánh với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và tính toán chỉ số chất lượng nước.

Khung pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật áp dụng

Tác giả sử dụng các văn bản pháp luật, chính sách và tiêu chuẩn kỹ thuật làm căn cứ đánh giá:

  • QCVN 08-MT:2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt. Khóa luận đối chiếu nồng độ các chất ô nhiễm với hai giá trị giới hạn: Cột A1 (sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt sau khi áp dụng xử lý thông thường) và Cột B1 (sử dụng cho mục đích tưới tiêu, thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương tự).
  • Quyết định tính toán Chỉ số chất lượng nước (WQI): Sử dụng thang điểm WQI để phân vùng mức độ ô nhiễm và đánh giá khả năng sử dụng nguồn nước (thang điểm chia theo màu: Xanh nước biển [tốt cho cấp sinh hoạt], Xanh lá cây [cấp sinh hoạt cần xử lý phù hợp], Vàng [tưới tiêu], Da cam [giao thông thủy], Đỏ [ô nhiễm nặng, cần xử lý trong tương lai]).
  • Nghị quyết số 23/2013/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng về bảo vệ nguồn nước ngọt trên địa bàn thành phố.
  • Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
  • Quyết định phê duyệt quy hoạch tài nguyên nước thành phố Hải Phòng đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập và kế thừa dữ liệu: Tiếp cận các báo cáo hiện trạng môi trường, niên giám thống kê năm 2016 của Cục Thống kê thành phố Hải Phòng, các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và số liệu quản lý thủy lợi của huyện Tiên Lãng.
  • Phương pháp quan trắc và phân tích phòng thí nghiệm: Nghiên cứu kế thừa dữ liệu quan trắc môi trường năm 2016 do Trung tâm Quan trắc môi trường – Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng thực hiện. Các mẫu nước được lấy tại 3 vị trí đại diện dọc theo hệ thống thủy nông:
    • Cống Rỗ: Điểm đầu nguồn trước khi nước chảy vào hệ thống thủy nông nội đồng.
    • Cầu Minh Đức: Điểm trung lưu, tiếp nhận nước thải sau khi chảy qua khu vực thị trấn Tiên Lãng. Tọa độ VN2000: 2293478X, 584459Y.
    • Cống Dương Áo: Điểm hạ lưu trước khi đổ ra sông Văn Úc. Tọa độ VN2000: 2288282X, 594091Y.
    • Tần suất lấy mẫu: 02 đợt/năm (tháng 8 đại diện mùa mưa, tháng 11 đại diện mùa khô).
    • 12 thông số quan trắc: Tổng chất rắn lơ lửng (TSS), COD, BOD₅ (20°C), Amoni ($NH_4^+$-N), Nitrit ($NO_2^-$-N), Phosphat ($PO_4^{3-}$-P), Kẽm (Zn), Sắt (Fe), Mangan (Mn), Phenol tổng số, E.Coli và Coliform.
  • Phương pháp xử lý số liệu và so sánh quy chuẩn: Lập bảng biểu đối sánh nồng độ từng thông số với ngưỡng giới hạn Cột A1 và Cột B1 của QCVN 08-MT:2015/BTNMT; phân tích diễn biến nồng độ theo mùa (mưa/khô) và theo vị trí dòng chảy (thượng lưu, trung lưu, hạ lưu); tính toán chỉ số WQI tổng hợp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về môi trường nước mặt thành phố Hải Phòng

Chương này phác thảo bức tranh toàn cảnh về các điều kiện tự nhiên và áp lực nhân sinh ảnh hưởng tới môi trường nước mặt thành phố Hải Phòng:

  • Điều kiện tự nhiên, thủy văn và khí hậu: Hải Phòng có tọa độ từ 20°30’39” đến 21°01’15” vĩ độ Bắc và từ 106°23’39” đến 107°08’39” kinh độ Đông; bờ biển dài trên 125 km với khoảng 366 đảo đá ven bờ. Toàn thành phố có 6 sông chính và 9 sông nhánh với tổng chiều dài khoảng 300 km. Khóa luận cung cấp thông số hình thái học của 6 dòng sông lớn:
Tên sông Chiều dài (km) Chiều rộng trung bình (m) Độ sâu trung bình (m) Vận tốc dòng chảy trung bình (m/s)
Bạch Đằng 42 1000 8 0,7
Sông Cấm 37 400 7 0,7
Văn Úc 38 400 8 1,2
Thái Bình 30 150 3 0,4
Sông Luộc 18 120 4 0,8
Lạch Tray 43 120 4 0,7

Chế độ thủy văn phân thành hai mùa rõ rệt. Mùa khô, vận tốc dòng chảy ven biển rất nhỏ (0,1–0,2 m/s). Mùa mưa, vận tốc dòng chảy biến đổi từ 0,2–0,8 m/s, tại các cửa hẹp (cửa Lạch Huyện, Nam Triệu) có thể đạt trên 1,0 m/s. Khí hậu mang tính chất cận nhiệt đới ẩm, độ ẩm trung bình 80–85%, có 4 mùa rõ rệt. Nhiệt độ trung bình tháng dao động từ 20–23°C (cao nhất tới 40°C, thấp nhất ít khi dưới 5°C).

  • Sức ép từ phát triển kinh tế - xã hội:
    • Dân số: Năm 2014, mật độ dân số thành phố là 1.274 người/km² (gấp 4,7 lần bình quân cả nước), phân bố không đồng đều (quận Lê Chân đạt 18.411 người/km², quận Ngô Quyền 15.112 người/km², trong khi huyện Tiên Lãng chỉ đạt 776 người/km²).
    • Công nghiệp: Quy hoạch đến năm 2020 gồm 17 khu công nghiệp (KCN) với gần 10.000 ha; đến năm 2015 đã có 07 KCN hoạt động (Nomura, Đồ Sơn, Đình Vũ, Tràng Duệ, Nam Cầu Kiền, VSIP, Minh Phương), nhưng chỉ có 05 KCN xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung. Thành phố có 05 cụm công nghiệp (CCN) đã thành lập với tỷ lệ lấp đầy 94,06%–96,24%, cùng hơn 13.000 cơ sở sản xuất kinh doanh nằm rải rác ngoài KCN/CCN (mới có 4.450 cơ sở được phê duyệt hồ sơ môi trường). Toàn thành phố còn có hơn 80 cơ sở sản xuất vôi thủ công và 39 làng nghề đang hoạt động (23 làng nghề truyền thống).
    • Nông nghiệp, năng lượng và y tế: Chăn nuôi chuyển dịch sang quy mô trang trại (giá trị sản xuất đạt 1.690 tỷ đồng năm 2015), phát sinh chất thải lớn chưa kiểm soát triệt để; nhiệt điện phát thải tro xỉ và nước xúc rửa; 37 bệnh viện với 6.000 giường bệnh phát sinh nước thải y tế mang mầm bệnh nguy hại.

Chương 2: Đánh giá sơ bộ chất lượng nước sông trung thủy nông Tiên Lãng

Nội dung trọng tâm của chương tập trung phân tích hiện trạng kỹ thuật hệ thống thủy nông, kết quả phân tích chất lượng nước và nhận diện các nguồn gây ô nhiễm:

  • Đặc điểm hạ tầng hệ thống thủy nông: Hệ thống phục vụ tưới tiêu cho hơn 25.000 ha đất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, tiêu thoát nước và cấp nước sinh hoạt cho 23 xã, thị trấn của huyện Tiên Lãng và Công ty Nông nghiệp Quý Cao. Công trình gồm 64 cống dưới đê, 53 cống đập điều tiết nội đồng, 79 trạm bơm điện, 237,7 km kênh mương (trong đó có 43 km kênh trục chính).

  • Số liệu quan trắc nước mặt năm 2016: Bảng số liệu phân tích tại 3 điểm quan trắc vào tháng 8 (mùa mưa) và tháng 11 (mùa khô) năm 2016:

Vị trí Thời gian TSS (mg/l) COD (mg/l) BOD₅ (mg/l) NH₄⁺-N (mg/l) NO₂⁻-N (mg/l) PO₄³⁻-P (mg/l) Zn (mg/l) Fe (mg/l) Mn (mg/l) Phenol (mg/l) E.Coli (VK/100ml) Coliform (MPN/100ml)
Cống Rỗ T8 12 25 7 0,56 0,16 0,05 KPH 0,45 0,05 KPH 7 5.000
T11 21 28 4 0,65 0,020 0,03 KPH 1,045 KPH KPH 13 17.000
Cầu Minh Đức T8 25 35 13 4,30 0,18 0,08 0,12 0,73 0,158 0,028 13 30.000
T11 22 21 5 1,56 0,015 0,38 1,37 4,10 0,113 0,045 25 800
Cống Dương Áo T8 27 41 8 1,04 0,20 0,05 0,04 0,48 0,08 KPH 11 400
T11 22 40 6 1,95 0,016 0,05 0,05 0,48 KPH KPH 20 2.500
QCVN 08 Cột A1 — 20 10 4 0,3 0,05 0,1 1,0 0,5 0,1 0,005 20 2.500
QCVN 08 Cột B1 — 50 30 15 0,9 0,05 0,3 1,5 1,5 0,2 0,005 50 7.500

(Ghi chú: KPH: Không phát hiện; QCVN 08-MT:2015/BTNMT Cột A1: Cấp nước sinh hoạt; Cột B1: Tưới tiêu, thủy lợi).

  • Đánh giá diễn biến các chỉ tiêu:

    • Chất rắn lơ lửng (TSS): Dao động 12–27 mg/l, vượt ngưỡng A1 từ 1,09 lần đến 1,39 lần tại Cống Dương Áo nhưng nằm trong ngưỡng B1.
    • Hữu cơ ($BOD_5$, COD): $BOD_5$ vượt cột A1 từ 1,73 lần (Cống Rỗ) đến 3,25 lần (Cầu Minh Đức - 13 mg/l) vào mùa mưa. COD vượt cột B1 tại Cầu Minh Đức (35 mg/l - vượt 1,15 lần vào tháng 8) và tại Cống Dương Áo (vượt 1,30–1,36 lần cả 2 đợt: 41 mg/l và 40 mg/l).
    • Dinh dưỡng ($NH_4^+$, $NO_2^-$, $PO_4^{3-}$): Amoni vượt ngưỡng B1 rất cao vào mùa mưa, từ 1,04 lần (Cống Dương Áo) đến 4,30 lần (Cầu Minh Đức đạt 4,30 mg/l). Mùa khô amoni vẫn vượt cột A1 từ 1,73 đến 2,17 lần. Nitrit vào mùa mưa vượt cột B1 từ 3,2 lần (Cống Rỗ) đến 4,0 lần (Cống Dương Áo đạt 0,20 mg/l). Phosphat vượt cột A1 1,9 lần tại Cầu Minh Đức vào tháng 11 (0,38 mg/l).
    • Kim loại nặng (Fe, Mn, Zn): Fe vượt cột B1 2,73 lần tại Cầu Minh Đức tháng 11 (4,10 mg/l) và vượt cột A1 tại Cống Rỗ tháng 11 (1,045 mg/l). Mangan vượt cột A1 tại Cầu Minh Đức trong cả hai đợt (0,158 mg/l và 0,113 mg/l). Kẽm vượt cột A1 1,37 lần tại Cầu Minh Đức vào tháng 11 (1,37 mg/l).
    • Chất độc hại (Phenol): Xuất hiện đặc biệt nghiêm trọng tại Cầu Minh Đức với nồng độ 0,028 mg/l (tháng 8) và 0,045 mg/l (tháng 11), vượt quy chuẩn QCVN 08 Cột B1 từ 5,6 đến 9,0 lần.
    • Vi sinh (Coliform, E.Coli): E.Coli vượt ngưỡng A1 1,25 lần tại Cầu Minh Đức vào tháng 11 (25 vi khuẩn/100ml). Coliform tại Cống Rỗ vượt cột B1 tới 2,27 lần vào mùa khô (17.000 MPN/100ml) và vượt cột A1 2,0 lần vào mùa mưa (5.000 MPN/100ml); tại Cầu Minh Đức tháng 8 lên tới 30.000 MPN/100ml.
  • Kết quả tính toán chỉ số chất lượng nước (WQI):

Điểm quan trắc Chỉ số WQI Tháng 8 (Mùa mưa) Chỉ số WQI Tháng 11 (Mùa khô)
Cống Rỗ 82 (Xanh nước biển) 18 (Đỏ)
Cầu Minh Đức 17 (Đỏ) 72 (Xanh lá cây)
Cống Dương Áo 82 (Xanh nước biển) 86 (Xanh nước biển)

Tổng hợp đánh giá WQI toàn hệ thống cho thấy: 33,33% lượng nước thuộc mức ô nhiễm nặng (màu đỏ, cần xử lý trong tương lai); 16,67% sử dụng cho mục đích tưới tiêu; 50,0% có thể sử dụng cho cấp nước sinh hoạt nhưng cần áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp.

  • Nguyên nhân gây ô nhiễm và hiện trạng quản lý:
    • Nước thải sinh hoạt từ 23 xã, thị trấn chưa qua xử lý đổ thẳng vào hệ thống kênh; điển hình là kênh cống Khuể (đoạn từ cầu Chè đến đập Mũi Tây tại thị trấn Tiên Lãng) tiếp nhận nước thải làm bún máy, làm bánh, làm đậu phụ, giết mổ gia súc, gia cầm.
    • Cơ sở sản xuất xả thải trực tiếp: Công ty TNHH Giầy Nam Thiện (xã Bắc Hưng), Bệnh viện đa khoa huyện Tiên Lãng, Phòng khám 2 Hùng Thắng, Phòng khám 4 Đông Quy; nước thải từ chợ Đôi, chợ Đông Quy, chợ Vàm Láng; nước rỉ từ các nghĩa trang, bãi rác tự phát; nước thải nuôi trồng thủy sản và trại chăn nuôi gia súc, gia cầm.
    • Nguồn nông nghiệp: Rửa trôi dư lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật từ đồng ruộng vào kênh dẫn.
    • Quản lý nhà nước: Đơn vị vận hành là Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Tiên Lãng. Công tác quản lý gặp nhiều bất cập: thiếu quy hoạch tổng thể dài hạn; phối hợp liên ngành - liên tỉnh lỏng lẻo; chế tài xử lý vi phạm hành lang bảo vệ công trình thủy lợi chưa nghiêm; ý thức người dân còn thấp.

Chương 3: Các thách thức trong bảo vệ môi trường, và giải pháp giảm thiểu ô nhiễm

  • Tồn tại, thách thức trong thực hiện Nghị quyết số 23/2013/NQ-HĐND:

    • Thiếu nguồn kinh phí phân bổ để triển khai các nhiệm vụ theo Nghị quyết; thiếu cơ chế phối hợp giữa chính quyền và cộng đồng.
    • Người dân cố tình cản trở việc giải tỏa vi phạm công trình thủy lợi, chăn nuôi thủy cầm trên dòng kênh.
    • Các cụm công nghiệp đầu nguồn nước (như cụm công nghiệp Quán Toan, Hùng Vương - Hồng Bàng; Cầu Vàng - An Lão; Bắc Sơn, Nam Sơn - An Dương) chưa xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung.
    • Nước mưa tràn mặt chảy qua khu vực sản xuất mang theo chất thải đổ thẳng vào kênh cấp nước mà không phải cấp phép.
    • Dữ liệu quan trắc liên tỉnh còn rời rạc, chưa phản ánh đầy đủ tác động từ nguồn nước thượng nguồn sông Hồng và sông Thái Bình dồn về.
  • Giải pháp thực hiện do tác giả đề xuất:

    • Phân vùng sử dụng nguồn nước: Tách biệt 2 khu vực: Bắc sông Mới (lấy nước chính từ cống Giang Khẩu thuộc sông Mới); Nam sông Mới (lấy nước qua cống Rỗ 1, cống Rỗ 2, cống Trọi từ nguồn nước sông Thái Bình và sông Mới).
    • Quy hoạch phân bổ tài nguyên nước: Dừng việc cấp phép thăm dò và cấp phép khai thác nước dưới đất mới cho các tổ chức, cá nhân tại những nơi đã có nguồn nước mặt, nhằm bảo vệ mực nước ngầm, chống sụt lún và ngăn ngừa xâm nhập mặn tầng chứa nước.
    • Quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước: Tiến hành cắm mốc chỉ giới hành lang bảo vệ nguồn nước và công trình thủy lợi; thực hiện kế hoạch giải tỏa vi phạm hàng năm; xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt và nông thôn tập trung; xây dựng các trạm quan trắc tự động cố định; triển khai thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo Nghị định số 25/2013/NĐ-CP; tăng cường thanh tra và đầu tư trang thiết bị kiểm tra môi trường.

Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng chính

  • Xác lập bức tranh hiện trạng ô nhiễm nguồn nước mặt Hệ thống trung thủy nông Tiên Lãng thông qua chuỗi số liệu định lượng năm 2016:
    • Chỉ ra điểm đen ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng và chất độc hại tại khu vực trung lưu (Cầu Minh Đức): $BOD_5$ đạt 13 mg/l (vượt Cột A1 3,25 lần), amoni đạt 4,30 mg/l (vượt Cột B1 4,30 lần vào mùa mưa), phenol đạt 0,028–0,045 mg/l (vượt Cột B1 từ 5,6 đến 9,0 lần), sắt mùa khô đạt 4,10 mg/l (vượt Cột B1 2,73 lần).
    • Ghi nhận hiện tượng suy giảm WQI cực đoan theo mùa: Cầu Minh Đức vào mùa mưa rơi xuống mức ô nhiễm nặng (WQI = 17); Cống Rỗ vào mùa khô cũng rơi xuống mức ô nhiễm nặng (WQI = 18 do Coliform tăng vọt lên 17.000 MPN/100ml, vượt B1 2,27 lần).
    • Xác nhận tỷ lệ chất lượng nước toàn hệ thống: 33,33% ô nhiễm nặng, 16,67% đạt mức tưới tiêu, 50,0% đạt mức cấp sinh hoạt nhưng bắt buộc phải qua dây chuyền xử lý phù hợp.

Giải pháp và kiến nghị

  • Khóa luận kiến nghị phương án quy hoạch phân vùng cấp nước rõ rệt cho 2 tiểu vùng Bắc - Nam sông Mới gắn với các cống lấy nước tự chảy (Giang Khẩu, Cống Rỗ 1, 2, Cống Trọi).
  • Đề xuất chính sách cứng rắn: kiên quyết dừng cấp phép mới khai thác nước ngầm để chống sụt lún và mặn hóa; bắt buộc cắm mốc chỉ giới hành lang bảo vệ kênh thủy nông và từ chối cấp phép đầu tư cho các dự án thiếu hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn.

Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực tế tại hiện trường về chất lượng nước mặt của một hệ thống trung thủy nông đồng bằng ven biển đặc thù, kết hợp đánh giá song song giữa các chỉ tiêu đơn lẻ và chỉ số WQI tổng hợp.
  • Làm rõ tính chất ô nhiễm cục bộ gắn liền với các hoạt động sinh hoạt, tiểu thủ công nghiệp (làm bún, giết mổ) và nông nghiệp đặc trưng ở nông thôn Hải Phòng, bổ sung cơ sở thực tiễn phục vụ việc triển khai Nghị quyết số 23/2013/NQ-HĐND tại cấp huyện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu quan trắc trong nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở 3 vị trí đại diện (Cống Rỗ, Cầu Minh Đức, Cống Dương Áo) với tần suất 2 đợt/năm (tháng 8 và tháng 11/2016). Mật độ và tần suất này chưa phản ánh được đầy đủ những biến động chất lượng nước liên tục theo chu kỳ nhật triều hàng ngày, các đợt xả lũ bất thường hoặc các thời điểm kiệt sâu trong mùa khô.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần thiết lập hệ thống trạm quan trắc tự động liên tục trên hệ thống kênh trục chính; mở rộng chương trình quan trắc phối hợp liên tỉnh để đánh giá tổng thể tải lượng ô nhiễm từ thượng nguồn sông Hồng và sông Thái Bình trước khi nước chảy vào các cống lấy nước tại Hải Phòng.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên ngành Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Tài nguyên Nước, Quản lý Môi trường và Thủy lợi: Cung cấp phương pháp mẫu về việc sử dụng chỉ số WQI và đối sánh QCVN 08-MT:2015/BTNMT để đánh giá chất lượng nước mặt cho mục đích cấp nước sinh hoạt.
  • Các nhà nghiên cứu thực hiện đề tài về ô nhiễm môi trường nông thôn, xâm nhập mặn vùng duyên hải Bắc Bộ và các giải pháp bảo vệ nguồn nước thô.
  • Cơ quan quản lý địa phương (Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng, UBND huyện Tiên Lãng, Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Tiên Lãng): Dữ liệu phân tích tại Bảng 2.2 và phương án phân vùng cấp nước tại Chương 3 là căn cứ tham khảo trực tiếp cho việc quy hoạch hành lang bảo vệ nguồn nước và xây dựng các trạm xử lý nước sinh hoạt tập trung.

Câu hỏi thường gặp

1. Hệ thống trung thủy nông Tiên Lãng đảm nhiệm phạm vi phục vụ và có quy mô hạ tầng như thế nào?
Hệ thống được chia tách thành 2 khu vực độc lập Bắc - Nam sông Mới, có nhiệm vụ cấp nước tưới tiêu cho hơn 25.000 ha đất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, phục vụ tiêu thoát nước và cấp nước sinh hoạt cho 23 xã, thị trấn của huyện Tiên Lãng cùng Công ty TNHH MTV Nông nghiệp Quý Cao. Hạ tầng thủy lợi bao gồm 64 cống dưới đê, 53 cống đập điều tiết nội đồng, 79 trạm bơm điện và 237,7 km kênh mương (với 43 km kênh trục chính).

2. Vị trí và tọa độ của các điểm quan trắc lấy mẫu trong khóa luận được bố trí ở đâu?
Nghiên cứu bố trí 3 điểm quan trắc đại diện theo dòng chảy: điểm đầu nguồn tại Cống Rỗ (trước khi vào hệ thống); điểm trung lưu tại Cầu Minh Đức (khu vực thị trấn Tiên Lãng, tọa độ VN2000: 2293478X, 584459Y); và điểm hạ lưu tại Cống Dương Áo (trước khi đổ ra sông Văn Úc, tọa độ VN2000: 2288282X, 594091Y).

3. Chỉ số chất lượng nước (WQI) tại các điểm quan trắc biến động ra sao giữa mùa mưa và mùa khô năm 2016?
Vào tháng 8 (mùa mưa), WQI tại Cống Rỗ đạt 82, Cống Dương Áo đạt 82 (mức tốt - Xanh nước biển), riêng Cầu Minh Đức rơi xuống 17 (ô nhiễm nặng - Đỏ). Ngược lại, vào tháng 11 (mùa khô), Cống Rỗ tụt xuống 18 (ô nhiễm nặng - Đỏ do vi sinh tăng cao), Cầu Minh Đức đạt 72 (Xanh lá cây) và Cống Dương Áo đạt 86 (Xanh nước biển). Tính chung toàn hệ thống, 33,33% lượng nước ô nhiễm nặng, 16,67% dùng cho tưới tiêu và 50% dùng cấp sinh hoạt nhưng cần xử lý phù hợp.

4. Những thông số ô nhiễm nào ghi nhận mức vượt chuẩn nghiêm trọng nhất và nguyên nhân phát sinh từ đâu?
Các thông số vượt ngưỡng cao nhất gồm: Amoni mùa mưa tại Cầu Minh Đức đạt 4,30 mg/l (vượt B1 4,30 lần); Nitrit mùa mưa tại Cống Dương Áo đạt 0,20 mg/l (vượt B1 4,0 lần); Phenol tại Cầu Minh Đức đạt 0,028–0,045 mg/l (vượt B1 từ 5,6 đến 9,0 lần); Coliform tại Cống Rỗ mùa khô đạt 17.000 MPN/100ml (vượt B1 2,27 lần) và Cầu Minh Đức mùa mưa lên tới 30.000 MPN/100ml. Nguyên nhân chính do nước thải sinh hoạt của 23 xã/thị trấn chưa qua xử lý, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp làm bún, giết mổ tại kênh cống Khuể, nước thải da giày Nam Thiện, nước thải y tế và dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật từ đồng ruộng.

5. Khóa luận đề xuất giải pháp quy hoạch phân vùng nguồn nước cụ thể như thế nào?
Tác giả đề xuất phân vùng sử dụng nước cho 2 khu vực riêng biệt: Khu vực Bắc sông Mới được cấp nước chủ yếu từ nguồn sông Mới thông qua cống Giang Khẩu; Khu vực Nam sông Mới được cấp nước từ sông Thái Bình và sông Mới thông qua cống Rỗ 1, cống Rỗ 2 và cống Trọi. Đi kèm với đó là giải pháp dừng cấp phép mới khai thác nước dưới đất để tránh nhiễm mặn tầng ngầm và cắm mốc hành lang bảo vệ công trình thủy lợi.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Quang Anh đã phản ánh trung thực hiện trạng chất lượng nước mặt tại Hệ thống trung thủy nông Tiên Lãng thông qua chuỗi số liệu quan trắc thực tế năm 2016. Kết quả tính toán WQI và đối sánh QCVN 08-MT:2015/BTNMT khẳng định nguồn nước đang chịu áp lực ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng, vi sinh và phenol nghiêm trọng tại một số phân đoạn dòng chảy do nước thải dân sinh và sản xuất chưa qua xử lý. Các giải pháp phân vùng cấp nước, dừng khai thác nước ngầm và cắm mốc bảo vệ hành lang thủy lợi được đề xuất có tính khả thi cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quản lý tài nguyên nước tại thành phố Hải Phòng.