Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên thiết yếu phục vụ sự sinh tồn của con người và hệ sinh thái. Tuy nhiên, cùng với gia tăng dân số, sự phát triển kinh tế và các hoạt động dân sinh, nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm tại nhiều vùng nông thôn đang đối mặt với nguy cơ suy giảm cả về trữ lượng lẫn chất lượng. Tại xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai – một xã miền núi có nền kinh tế chủ đạo là sản xuất nông lâm nghiệp, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn – các vấn đề phát sinh từ chất thải chăn nuôi, rác thải sinh hoạt chưa được thu gom, lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật đang đe dọa trực tiếp đến môi trường nước. Trên địa bàn xã có hai dòng suối chính là suối Bản Vai và suối Bản Náng cùng mạng lưới khe rạch dày đặc; đây là các thủy vực cấp nước sinh hoạt và sản xuất quan trọng nhưng lại tiếp nhận trực tiếp nước thải, rác thải do ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận người dân còn hạn chế. Nguồn nước cấp cho sinh hoạt tại đây chủ yếu khai thác từ nước khe, giếng đào, giếng khoan và một phần nhỏ từ mạng lưới cấp nước tập trung (nước máy). Vào mùa mưa, nước mặt và nước giếng thường xuyên bị đục do sạt lở và bùn đất cuốn trôi. Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận tốt nghiệp ngành Khoa học Môi trường của tác giả Sìn Thị Ý (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, người hướng dẫn: PGS. Trần Văn Điền, năm 2018) đã thực hiện đề tài: "Đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt và đề xuất các biện pháp quản lý tại xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai".
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể như sau:
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt và đề xuất biện pháp quản lý tại xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
- Đánh giá tình hình sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt tại xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
- Tìm ra những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước trên địa bàn xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
- Đề xuất một số biện pháp khắc phục, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm nước sinh hoạt và cung cấp nước sạch nhằm nâng cao chất lượng nước sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu nước sạch của người dân địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nước sinh hoạt đang được người dân sử dụng (nước giếng khoan, nước giếng đào, nước máy, nước khe rạch) và hiện trạng quản lý nguồn nước tại địa bàn.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai (diện tích tự nhiên 5.367 ha, gồm 18 thôn bản).
- Phạm vi thời gian: Khóa luận tiến hành nghiên cứu, điều tra thực địa và thu thập số liệu trong khoảng thời gian từ tháng 08/2017 đến tháng 12/2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận hệ thống hóa các khái niệm chuyên ngành căn cứ theo Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 và các tài liệu chuyên môn, bao gồm: nguồn nước, nước mặt, nước dưới đất, nước sinh hoạt, nước sạch, ô nhiễm nguồn nước, suy thoái và cạn kiệt nguồn nước, hành lang bảo vệ nguồn nước. Khung pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật được tác giả trích dẫn làm cơ sở đối chiếu gồm:
- Luật Tài nguyên nước năm 2012 (hiệu lực từ 01/01/2013) và Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 (hiệu lực từ 01/01/2015).
- Nghị định số 201/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Tài nguyên nước; Nghị định số 43/2015/NĐ-CP quy định lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước; Nghị định số 80/2014/NĐ-CP về thoát nước và xử lý nước thải.
- Thông tư số 65/2015/TT-BTNMT (kèm theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT về chất lượng nước mặt); Thông tư số 66/2015/TT-BTNMT (kèm theo QCVN 09-MT:2015/BTNMT về chất lượng nước ngầm).
- QCVN 02:2009/BYT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt do Bộ Y tế ban hành.
- Các chính sách liên quan: Thông tư liên tịch số 04/2013/TTLT-BNNPTNT-BTC-BKHĐT; Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020; Quyết định số 2570/QĐ-BNN-TCTL; Công văn số 2411/BYT-MT năm 2015 về kiểm tra, giám sát chất lượng nước sinh hoạt.
Tác giả đã triển khai tổ hợp các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra xã hội học:
- Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu thứ cấp: Thu thập tài liệu, số liệu thống kê điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, báo cáo quy hoạch sử dụng đất năm 2020 của UBND xã Bản Qua, số liệu khí tượng thủy văn trạm Bát Xát.
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu điều tra chuẩn bị sẵn tại 150 hộ gia đình (trên tổng số 1.466 hộ toàn xã) phân bố khắp 18 thôn bản, không phân biệt nghề nghiệp, độ tuổi hay giới tính, nhằm thu thập thông tin về nguồn nước sử dụng, hệ thống lọc và nhận thức về chất lượng nước.
- Phương pháp khảo sát thực tế: Quan sát trực tiếp bằng mắt thường và đánh giá cảm quan về màu sắc, mùi vị nguồn nước, ghi nhận hiện trạng vệ sinh xung quanh các nguồn cấp nước.
- Phương pháp lấy mẫu và phân tích phòng thí nghiệm: Quy trình lấy mẫu nước tuân thủ tiêu chuẩn TCVN 6663-11:2011 và TCVN 6663-1:2011 (ISO 5667-2:2006). Lấy 4 mẫu nước đại diện vào ngày 16/10/2017:
- Mẫu 1: Nước giếng khoan tại hộ Hồ Thị Nùng (thôn Bản Vền).
- Mẫu 2: Nước giếng đào tại hộ Sìn A Vùn (thôn Tân Hồng).
- Mẫu 3: Nước máy tại hộ Phạm Thị Tươi (thôn Bản Vai).
- Mẫu 4: Nước khe rạch tại hộ Trần Văn Tài (thôn Cóoc Cài).
Các mẫu được chuyển về bảo quản và phân tích tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên với 9 chỉ tiêu: pH (TCVN 6492:1999), Màu sắc (TCVN 6185-1996), Mùi vị (Cảm quan), Độ đục (TCVN 6184-1996), Hàm lượng Sắt tổng số (TCVN 6177-1996 bằng trắc phổ 1,10-phenantrolin), Ôxy hòa tan DO (máy đo đa chỉ tiêu), Nhu cầu oxy hóa học COD (TCVN 6491:1999), Tổng chất rắn lơ lửng TSS (TCVN 6625:2000 bằng màng lọc sợi thủy tinh), Độ cứng tổng số (TCVN 6224:1995).
- Phương pháp thống kê, xử lý và so sánh số liệu: Số liệu điều tra và phân tích hóa nghiệm được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word, sau đó đối chiếu kết quả với giới hạn cho phép tại QCVN 02:2009/BYT.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò sống còn của tài nguyên nước đối với sinh hoạt và sản xuất, áp lực thiếu nước sạch nông thôn và thực trạng ô nhiễm cục bộ tại xã Bản Qua. Chương này xác định rõ mục tiêu tổng quát, 5 mục tiêu cụ thể, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài trong việc vận dụng kiến thức bảo vệ môi trường vào giải quyết vấn đề cấp thiết của địa phương.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Nội dung chương tổng hợp hệ thống cơ sở khoa học về tài nguyên nước: phân loại các nguồn cung cấp nước (nước ngầm, nước mặt, dòng chảy ngầm, nước mưa), cơ chế hình thành và nguy cơ ô nhiễm của từng nguồn. Tác giả phân tích chi tiết ý nghĩa môi trường của các thông số lý - hóa học dùng để đánh giá chất lượng nước (pH, nhiệt độ, màu sắc, TS, SS, độ cứng, DO, COD, BOD, Clorua, Sulfat). Bên cạnh đó, chương tổng kết các nguồn gây ô nhiễm nước gồm nước thải sinh hoạt (chứa 58% chất hữu cơ, 42% chất vô cơ và vi khuẩn gây bệnh), hoạt động nông nghiệp (nước tiêu mang phân bón, thuốc BVTV, chất thải động vật, nước rửa trôi bề mặt), và nước thải công nghiệp. Về mặt thực tiễn, tác giả tổng lược tình hình tiêu thụ và quản lý nước trên thế giới, diễn biến cung cấp nước sinh hoạt nông thôn tại Việt Nam (đến năm 2010 có 75% dân số nông thôn tiếp cận nước hợp vệ sinh nhưng chỉ 37% đạt chuẩn Bộ Y tế, mức dùng bình quân 30-50 lít/người/ngày), và khái quát sơ bộ tình hình khan hiếm nước sạch tại xã Bản Qua.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu là nguồn nước sinh hoạt tại 18 thôn bản xã Bản Qua; thời gian triển khai từ tháng 08/2017 đến tháng 12/2017. Tác giả trình bày quy trình triển khai 5 phương pháp nghiên cứu chính: kế thừa tài liệu thứ cấp; khảo sát thực tế; thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn 150 hộ; quy trình lấy 4 mẫu nước đại diện theo TCVN 6663-11:2011 tại thôn Bản Vền, Tân Hồng, Bản Vai, Cóoc Cài; danh mục các thiết bị, phương pháp tiêu chuẩn phân tích 9 chỉ tiêu lý hóa tại phòng thí nghiệm; và phương pháp xử lý, tổng hợp số liệu so sánh với QCVN 02:2009/BYT.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, bao gồm các kết quả cụ thể:
Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội: Xã Bản Qua nằm ven sông Hồng, cách thành phố Lào Cai 15 km về phía Bắc, diện tích 5.367 ha, địa hình đồi núi trung du thấp dần từ Tây sang Đông (điểm cao nhất 2.018 m, thấp nhất 87 m, độ dốc trên 25° chiếm 46,7%). Khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung bình 23,42°C, lượng mưa trung bình năm 1.673 mm (tập trung hơn 70% vào mùa mưa các tháng 6, 7, 8). Hệ thống thủy văn gồm suối Bản Vai dài 6-7 km đổ ra sông Hồng, suối Bản Náng và nhiều khe lạch. Dân số năm 2016 là 1.466 hộ với 6.195 nhân khẩu thuộc 11 dân tộc (dân tộc Giáy chiếm 51,6%, Dao 24%, Kinh 18,7%, Tày 5,1%, dân tộc khác 0,6%). Lực lượng lao động chính gồm 2.902 người, trong đó nông nghiệp chiếm 64% (1.848 người), dịch vụ - thương mại chiếm 12% (340 người), tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề khác chiếm 24% (714 người).
Tình hình khai thác và sử dụng nguồn nước: Tổng hợp điều tra tại 150 hộ gia đình cho thấy cơ cấu nguồn nước sinh hoạt của cư dân có sự phân hóa rõ nét, phản ánh sự phụ thuộc lớn vào nguồn nước tự nhiên:
| STT |
Nguồn nước sử dụng |
Số phiếu |
Tỷ lệ (%) |
Đặc điểm khai thác tại địa bàn |
| 1 |
Nước khe rạch |
63 |
41,86 |
Phổ biến tại các thôn vùng cao, dẫn tự chảy về hộ |
| 2 |
Nước giếng đào |
41 |
27,63 |
Khai thác tầng nông ven đồi, phụ thuộc mùa mưa |
| 3 |
Nước khác (nguồn hỗn hợp, suối, mưa) |
22 |
14,74 |
Dùng kết hợp nhiều nguồn theo mùa |
| 4 |
Nước máy |
13 |
8,26 |
Tập trung tại một số thôn gần trung tâm như Bản Vai |
| 5 |
Nước giếng khoan |
11 |
7,78 |
Số lượng ít, chi phí đầu tư giếng khoan cao |
| Tổng |
Toàn bộ mẫu điều tra |
150 |
100,00 |
18 thôn bản thuộc xã Bản Qua |
Về thiết bị lọc, có 90 hộ (chiếm 60%) chưa sử dụng bất kỳ hệ thống lọc nào; chỉ có 60 hộ (chiếm 40%) có lắp đặt thiết bị hoặc bể lọc nước.
Nhận thức của người dân về chất lượng nước sinh hoạt:
- Cảm quan màu và mùi: 84,00% hộ đánh giá nước không có màu/mùi lạ; 7,33% phản ánh có màu lạ; 8,67% nhận thấy có mùi lạ.
- Hiện tượng bất thường khi sử dụng: 51,33% không thấy biểu hiện gì; 24,00% ghi nhận có cặn vôi ở đáy ấm đun; 23,34% thấy xuất hiện váng nước; 1,33% phản ánh nước không trong.
- Đánh giá chung: 87,33% cho rằng chất lượng nước ở mức tốt; 10,67% đánh giá không tốt; 2,00% đánh giá rất tốt.
- Hoạt động kiểm tra chất lượng: 96,00% hộ dân cho biết nguồn nước gia đình chưa từng được kiểm tra; 4,00% cho biết thỉnh thoảng được kiểm tra; 0% được kiểm tra thường xuyên.
Hiện trạng chất lượng nước qua phân tích phòng thí nghiệm: Kết quả thử nghiệm 4 mẫu nước đại diện đối chiếu với QCVN 02:2009/BYT được thể hiện qua bảng sau:
| STT |
Chỉ tiêu phân tích |
Đơn vị tính |
Mẫu 1 (Giếng khoan) |
Mẫu 2 (Giếng đào) |
Mẫu 3 (Nước máy) |
Mẫu 4 (Nước khe) |
QCVN 02:2009/BYT |
Đánh giá chung |
| 1 |
pH |
- |
6,560 |
6,660 |
6,500 |
6,750 |
6,0 - 8,5 |
Đạt quy chuẩn |
| 2 |
Màu sắc |
- |
Không màu |
Không màu |
Không màu |
Không màu |
15 TCU |
Đạt quy chuẩn |
| 3 |
Mùi vị |
- |
Không mùi |
Không mùi |
Không mùi |
Không mùi |
Không mùi, vị lạ |
Đạt quy chuẩn |
| 4 |
Độ đục |
NTU |
0,110 |
0,100 |
2,280 |
0,340 |
5 |
Đạt quy chuẩn |
| 5 |
Hàm lượng Sắt (Fe) |
mg/l |
0,009 |
0,007 |
0,0061 |
0,006 |
0,5 |
Đạt quy chuẩn |
| 6 |
Ôxy hòa tan (DO) |
mg/l |
3,670 |
4,260 |
3,920 |
3,930 |
- |
Không quy định |
| 7 |
COD |
mg/l |
0,800 |
0,400 |
4,000 |
3,200 |
- |
Không quy định |
| 8 |
Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) |
mg/l |
0,020 |
0,010 |
0,040 |
0,160 |
- |
Không quy định |
| 9 |
Độ cứng tổng số |
mg/l |
1,280 |
2,020 |
1,000 |
1,200 |
- |
Không quy định |
Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước tại xã: Tác giả xác định 4 nguồn nguy cơ chính:
- Rác thải sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình (rơm rạ, túi nilon, xác động thực vật, phân chăn nuôi) không được thu gom tập trung; người dân tự đốt lộ thiên hoặc vứt trực tiếp xuống ao, hồ, khe suối.
- Nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý của các hộ dân xả thẳng ra rãnh thoát nước và các thủy vực.
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp: lạm dụng phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật; nước tưới tiêu và nước mưa rửa trôi cuốn theo hóa chất ngấm vào nước ngầm và chảy vào suối.
- Hoạt động tiểu thủ công nghiệp và chăn nuôi: chất thải từ đàn gia súc (toàn xã có 1.887 con trâu, 5.984 con lợn), cơ sở sửa chữa xe máy, nhà máy gạch Tuy Nen Phú Hưng (công suất 36 triệu viên/năm) và dự án luyện đồng đang xây dựng (diện tích 91 ha).
Đề xuất biện pháp quản lý: Khóa luận xây dựng 5 nhóm giải pháp:
- Biện pháp tuyên truyền: Nâng cao ý thức người dân về bảo vệ nguồn nước và tác hại của nước bẩn.
- Biện pháp pháp luật và chính sách: Thực thi nghiêm Luật Bảo vệ Môi trường và Luật Tài nguyên nước, xử phạt hành vi xả rác, xả thải bừa bãi.
- Biện pháp quản lý: Tăng cường giám sát của chính quyền xã, xây dựng hương ước thôn bản, quy hoạch khu xử lý rác thải.
- Biện pháp kỹ thuật: Vận động nhân dân xây dựng bể lọc cát, đầu tư hệ thống lọc nước hộ gia đình, nạo vét kênh mương, bảo vệ rừng đầu nguồn suối Bản Vai và Bản Náng.
- Biện pháp giáo dục: Đưa nội dung bảo vệ môi trường nước vào các trường học trên địa bàn.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Khóa luận tổng kết ngắn gọn hiện trạng nguồn nước, khẳng định các mẫu phân tích thời điểm nghiên cứu cơ bản đạt QCVN 02:2009/BYT nhưng tiềm ẩn nhiều nguy cơ ô nhiễm do tập quán sinh hoạt. Tác giả đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với cấp ủy, chính quyền địa phương (tăng cường đầu tư trạm cấp nước sạch tập trung, quy hoạch bãi rác) và đối với các hộ gia đình (chủ động làm bể lọc, sử dụng nước tiết kiệm, không xả rác xuống suối).
Kết quả và đóng góp
Về kết quả khảo sát và thực nghiệm:
- Khóa luận xác lập cơ cấu sử dụng nước sinh hoạt thực tế tại xã Bản Qua năm 2017: nước khe rạch là nguồn cấp chủ đạo (41,86%), tiếp theo là giếng đào (27,63%), các nguồn kết hợp (14,74%), nước máy (8,26%) và giếng khoan (7,78%).
- Tỷ lệ hộ gia đình chưa trang bị hệ thống lọc nước còn cao, chiếm tới 60,00% (90/150 hộ). Nhận thức về kiểm tra nguồn nước còn thấp khi có tới 96,00% hộ dân chưa từng được kiểm tra định kỳ chất lượng nguồn nước đang dùng.
- Kết quả kiểm nghiệm 4 mẫu nước đại diện tại thời điểm khảo sát (16/10/2017) cho thấy các chỉ tiêu quy định trong QCVN 02:2009/BYT đều nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép: pH dao động từ 6,500 đến 6,750; độ đục từ 0,100 đến 2,280 NTU; hàm lượng sắt tổng số thấp, từ 0,006 đến 0,009 mg/l; nước không có màu và không có mùi lạ. Hàm lượng TSS ở nước khe cao nhất đạt 0,160 mg/l, COD ở nước máy là 4,000 mg/l và nước khe là 3,200 mg/l.
Về giải pháp và đóng góp của đề tài:
- Tác giả đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ gắn liền với điều kiện thực tế của xã miền núi, bao gồm: tuyên truyền vận động, hoàn thiện cơ chế chính sách - pháp luật địa phương, kiện toàn công tác quản lý - quy hoạch thu gom chất thải, triển khai các biện pháp kỹ thuật xử lý nước tại chỗ (bể lọc gia đình, nạo vét khơi thông dòng chảy), và lồng ghép giáo dục môi trường.
- Đóng góp khoa học và thực tiễn: Đây là tài liệu điều tra thực địa có hệ thống đầu tiên về hiện trạng nước sinh hoạt tại xã Bản Qua, cung cấp cơ sở dữ liệu số liệu cụ thể (về dân sinh, nguồn nước, kết quả phân tích hóa lý) làm căn cứ phục vụ chính quyền xã Bản Qua và huyện Bát Xát trong công tác lập kế hoạch cấp nước sạch nông thôn và xây dựng tiêu chí môi trường trong chương trình xây dựng nông thôn mới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu mà văn bản thể hiện:
- Số lượng mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm còn ít (chỉ phân tích 4 mẫu nước đại diện cho 4 loại hình nguồn nước tại 4 thôn), chưa bao quát hết chất lượng nước sinh hoạt của toàn bộ 18 thôn bản trong toàn xã.
- Đợt lấy mẫu chỉ thực hiện vào một thời điểm duy nhất (ngày 16/10/2017), chưa tiến hành quan trắc theo mùa (đặc biệt là mùa mưa lũ khi nước khe, suối thường xuyên bị đục vàng do sạt lở) để đánh giá sự biến động chất lượng nước theo chu kỳ năm.
- Khóa luận mới phân tích 9 chỉ tiêu hóa lý thông thường, chưa tiến hành phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật (E. coli, Coliform) và dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, kim loại nặng độc hại – vốn là những nguy cơ tiềm ẩn rất lớn từ tập quán chăn nuôi và trồng trọt tại địa phương.
- Hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo: Cần mở rộng quy mô lấy mẫu trên toàn bộ các thôn bản, tăng tần suất quan trắc giữa mùa mưa và mùa khô, bổ sung đầy đủ các chỉ tiêu vi sinh và độc chất để xây dựng bức tranh toàn diện về vệ sinh an toàn nước sinh hoạt tại vùng cao Bát Xát.
Giá trị tham khảo
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Sìn Thị Ý mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường: Tài liệu cung cấp mẫu hình nghiên cứu thực tế về phương pháp kết hợp giữa điều tra xã hội học nông thôn (thiết kế bảng hỏi, cỡ mẫu 150 hộ) và quy trình lấy mẫu, phân tích các chỉ tiêu cơ bản của nước theo tiêu chuẩn TCVN.
- Người làm đề tài nghiên cứu cấp nước sinh hoạt nông thôn: Có thể tham khảo cách phân loại nguồn nước, cách đánh giá nhận thức cộng đồng và khung phân tích các nguồn phát thải ô nhiễm đặc thù của địa bàn miền núi.
- Cán bộ quản lý môi trường xã Bản Qua và huyện Bát Xát: Cung cấp nguồn số liệu thực chứng về tỷ lệ hộ dùng nước khe, giếng đào, tình hình sử dụng bể lọc và các điểm phát thải rác sinh hoạt, hỗ trợ việc xây dựng phương án cấp nước sạch và quản lý chất thải tại địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Người dân xã Bản Qua chủ yếu sử dụng nguồn nước nào cho sinh hoạt hàng ngày?
Theo kết quả điều tra 150 hộ gia đình trên địa bàn 18 thôn bản của xã, nguồn nước được sử dụng nhiều nhất là nước khe rạch (chiếm 41,86% với 63 phiếu), tiếp theo là nước giếng đào (chiếm 27,63% với 41 phiếu). Nguồn nước máy chỉ chiếm 8,26% (13 phiếu), nước giếng khoan chiếm 7,78% (11 phiếu), và 14,74% số hộ sử dụng kết hợp nhiều nguồn nước khác nhau (nước mưa, nước suối).
2. Chất lượng 4 mẫu nước phân tích có đạt tiêu chuẩn theo QCVN 02:2009/BYT không?
Cả 4 mẫu nước (giếng khoan tại Bản Vền, giếng đào tại Tân Hồng, nước máy tại Bản Vai và nước khe rạch tại Cóoc Cài) khi phân tích các chỉ tiêu quy định trong QCVN 02:2009/BYT đều nằm trong giới hạn cho phép: độ pH dao động trong khoảng 6,500 - 6,750 (chuẩn từ 6,0 - 8,5); màu sắc không màu; mùi vị không có mùi, vị lạ; độ đục từ 0,100 - 2,280 NTU (chuẩn dưới 5 NTU); hàm lượng sắt tổng số từ 0,006 - 0,009 mg/l (chuẩn dưới 0,5 mg/l).
3. Tỷ lệ hộ gia đình tại xã Bản Qua sử dụng thiết bị lọc nước là bao nhiêu?
Kết quả khảo sát 150 hộ dân cho thấy có tới 60,00% hộ gia đình (90 hộ) không sử dụng bất kỳ hệ thống lọc nước nào, và chỉ có 40,00% hộ gia đình (60 hộ) có sử dụng các hệ thống lọc (như bể lọc cát, thiết bị lọc gia đình) trước khi đưa vào sử dụng.
4. Người dân địa phương nhận xét như thế nào về các hiện tượng bất thường của nguồn nước?
Khi đun nấu và sử dụng, 51,33% hộ dân cho biết nước không có biểu hiện gì bất thường. Tuy nhiên, có 24,00% số hộ nhận thấy hiện tượng lắng cặn vôi ở đáy dụng cụ đun, 23,34% ghi nhận có váng nước xuất hiện, và 1,33% phản ánh nước bị đục không trong. Ngoài ra, 8,67% hộ phản ánh nước có mùi lạ và 7,33% thấy nước có màu lạ.
5. Những nguồn phát thải chính nào đang đe dọa chất lượng nước tại xã Bản Qua?
Văn bản khóa luận chỉ rõ 4 nguồn gây nguy cơ ô nhiễm chính gồm: rác thải sinh hoạt chưa được thu gom (người dân vứt rác, xác động vật xuống kênh rạch, suối); nước thải sinh hoạt xả trực tiếp không qua xử lý; chất thải từ chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô lớn; và lượng phân bón hóa học, hóa chất bảo vệ thực vật dư thừa trong sản xuất nông nghiệp bị nước mưa cuốn trôi ngấm vào tầng nước ngầm và các dòng suối Bản Vai, Bản Náng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Sìn Thị Ý đã phản ánh toàn diện bức tranh khai thác, sử dụng và hiện trạng vệ sinh nước sinh hoạt tại xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Kết quả nghiên cứu xác nhận tỷ lệ phụ thuộc lớn của cư dân địa phương vào nguồn nước khe rạch và giếng đào tự nhiên, trong khi tỷ lệ hộ áp dụng biện pháp lọc nước và tiếp cận nguồn nước máy còn rất hạn chế. Mặc dù các chỉ tiêu hóa lý cơ bản tại thời điểm khảo sát đều đạt quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT, nguồn nước tại đây vẫn đang chịu sức ép ô nhiễm lớn từ rác thải sinh hoạt, phân bón nông nghiệp và chất thải chăn nuôi chưa qua xử lý. Các giải pháp quản lý, kỹ thuật và tuyên truyền được đề xuất trong công trình là căn cứ thực tiễn có giá trị phục vụ mục tiêu nâng cao tỷ lệ tiếp cận nước sạch cho cộng đồng dân cư nông thôn miền núi.