Chương 1 do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 26/03/2014 [9] quy định: Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây độc hại hoặc có đặc tính nguy hại khác. Cơ sở pháp lí - Căn cứ luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2014 được quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khoá 13 kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014 n 7 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015. - Căn cứ vào nghị định số 80/2006 NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật bảo vệ môi trường. - Nghị định 59/2007/ NĐ - CP ngày 09/04/2007 về quản lí chất thải rắn.
- Quyết định số 08/2005/QĐ-BYT ngày 11/3/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Tiêu chuẩn ngành: Tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu. - Căn cứ quyết định số 17/2001/ QĐ - BXD ngày 07/08/2001 của Bộ Xây Dựng định mức dự toán chuyên nghành vệ sinh môi trường - công tác thu gom vận chuyển, xử lí rác. - Quyết định số 22/2006 QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc áp dụng TCVN về môi trường. - Căn cứ quyết định số 17/2001/ QĐ - BXD ngày 07/08/2001 của Bộ Xây Dựng định mức dự toán chuyên nghành vệ sinh môi trường - công tác thu gom vận chuyển, xử lí rác.
- Quy định số 367-BVTV/QĐ về việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật sử dụng ở Việt Nam do Cục Bảo vệ thực vật ban hành. - Chỉ thị số 36/2008/CT - BNN ngày 20/02/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc tăng cường các hoạt động bảo vệ môi trường trong Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Căn cứ vào hệ thống TCVN như: - Căn cứ vào QCVN 01:2009/ BYT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống. - Căn cứ vào QCVN 06:2009/ BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh.
- Căn cứ vào TCVN 5502 - 2003 cấp nước sinh hoạt - yêu cầu chất lượng. - Căn cứ vào QCVN 09:2008/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm. - Căn cứ vào QCVN 14:2008/ BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt. - Căn cứ vào QCVN 15:2008/ BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dư n 8 lượng hóa chất bảo vệ hóa chất thực vật trong đất.
Cơ sở thực tiễn 2. Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên thế giới Ô nhiễm môi trường không chỉ là vấn đề bức xúc mà còn là vấn đề đáng lo ngại hiện nay, nó không chỉ riêng ở Việt Nam, mà cả trên Thế giới. Hằng năm trên Thế giới phải chịu nhiều thiệt hại về người và của do ô nhiễm môi trường gây ra. Nguyên nhân chủ yếu do nhận thức của con người chưa cao trong vấn đề bảo vệ môi trường.
Cùng với đó là sự gia tăng dân số dẫn đến nhiều chất thải sinh hoạt thải ra môi trường sống. Quá trình đô thị hóa cũng là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Được biết hằng ngày, môi trường sống của chúng ta phải tiếp nhận hàng trăm nghìn tấn rác, chất thải, khí thải từ các ngôi nhà hay những công ty, xí nghiệp, khu chế xuất… Ô nhiễm môi trường không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà ngày nay nó còn là vấn đề mang tính chính trị của nhiều quốc gia trên Thế giới. Ô nhiễm môi trường không chỉ xảy ra ở thành thị, mà cả ở nông thôn.
Ở mỗi nơi, mỗi địa phương có những nguyên nhân khác nhau, nhưng chung quy lại đều do sự chủ quan, thiếu ý thức của mọi người. Nếu như ở thành thị ô nhiễm môi trường xuất phát từ các chất thải của các khu công nghiệp, khu chế xuất, thì ở nông thôn lại xuất phát từ ý thức của người dân chưa cao: phóng uế, vứt rác, xác động vật bừa bãi,…. Phần lớn ô nhiễm môi trường tại các thành thị đều do chưa có hệ thống xử lý chất thải hợp lý. Còn ở nông thôn nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường phần lớn do các chất thải của con người và gia súc không được xử lý, hay xử lý chưa thích hợp.
Ngoài ra, ô nhiễm môi trường còn chịu nhiều ảnh hưởng bởi những hóa chất, thuốc trừ sâu từ việc phun, xịt của người nông dân. Theo Lê Thạc Cán (1995) [1]. Trong những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX, tình hình môi trường ở trên thế giới hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả nhân tố về chất lượng môi trường và tài nguyên thiên nhiên, có những đặc điểm sau: - Tăng trưởng dân số nhanh: Dân số thế giới đã lên tới 5,769 tỷ người và sữ tiếp tục tăng tới 8,5 tỷ trong 3 thập kỉ tới. Trong đó, 83,4% là dân số các nước đang phát triển.
Sau năm 2025, tốc độ tăng dân số sẽ chậm lại và lêm tới 10 tỷ vào năm 2050. n 9 Những vấn đề về tài nguyên môi trường mà tăng trưởng dân số đặt ra là: Lương thực; nhà ở và các nhu cầu vệ sinh, sức khoẻ, dịch vụ; chất lượng môi trường. - Suy giảm tài nguyên đất: Hậu quả môi trường gắn liền trực tiếp với gia tăng dân số và suy giảm tài nguyên đất. - Đô thị hoá mạnh mẽ: Dân số đô thị tăng lên nhanh chóng với tốc độ là 3% hàng năm cho toàn thế giới và 3-5% cho khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Dự báo đến 2020, tại các nước đang phát triển trong khu vực 50% dân số sống ở các đô thị và tại các nước phát triển tỷ lệ này là 75%. - Hình thành các siêu đô thị: Xu thế đô thị hoá này sẽ dẫn đến sự hình thành các siêu đô thị với dân số trên 4 triệu người. Sự hình thành các siêu đô thị tại tất cả các nước đều gây nên những khó khăn và phức tạp về chất lượng môi trường sống: Ô nhiễm do công nghiệp, giao thông vận tải, vấn đề rác thải…Tại các nước đamg phát triển, những vấn đề môi trường lại càng trở nên phức tạp. - Mất cân đối dân số đô thị và nông thôn: Sự mất cân đối này diễn ra qua việc dân nông thôn di cư một cách vô tổ chức tới các đô thị.
Với xu thế này sự phân bố dân cư đô thị và nông thôn ngày càng mất cân bằng, đô thị thì ngày càng căng thẳng về chất lượng môi trường, nông thôn do thiếu lực lượng lao động trẻ, khoẻ, công tác phục hồi suy thoái vì vậy sẽ gặp nhiều khó khăn. - Tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập không đều: Có thể nói rằng trong thập kỉ cuối cùng của thế kỉ XX, tất cả các quốc gia từ các quốc gia đang bị nội chiến tàn phá đều có những cố gắng vượt bậc để phát triển kinh tế và đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, sự không đồng đều về kinh tế, thu nhập và mức sống vật chất giữa các quốc gia ngày càng tăng. Do sự phân bố không đồng đều đó đã tạo nên một áp lực mạnh mẽ đối với tài nguyên thiên nhiên.
- Nhu cầu về lương thực tăng nhanh - Sản xuất lương thực tăng chậm và bước vào thời kì suy giảm - Gia tăng sử dụng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu: Nhìn chung trên toàn thế giới, lượng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu, diệt cỏ sử dụng vào nông nghiệp n 10 đang tiếp tục tăng thêm, tại một số nơi tăng lên theo cấp số nhân. - Gia tăng sa mạc hoá - Mất rừng - Suy giảm sản lượng thuỷ sản - Tăng trưởng sản xuất và tiêu thụ dầu khí - Gỗ củi tiếp tục bị cạn kiệt nhanh chóng - Chất lượng môi trường khí quyển tiếp tục bị suy thoái - Rác thải rắn cũng tăng lên: Viện Blacksmith, một tổ chức nghiên cứu môi trường quốc tế có trụ sở tại New York (Mỹ), công bố danh sách 10 thành phố thuộc 8 nước được coi là ô nhiễm nhất thế giới năm 2006. Tại các thành phố này, hơn 10 triệu người có nguy cơ bị nhiễm trùng, ung thư phổi và giảm tuổi thọ. Trẻ em bị lở loét do ảnh hưởng của các chất gây ô nhiễm môi trường.
10 thành phố này gồm: 1. Thành phố Dzerzhinsk ở Nga, từng là khu vực sản xuất vũ khí hoá học lớn trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh 2. Thành phố Lâm Phần, Trung tâm công nghiệp than đá của Trung Quốc. Thành phố Kabwe ở Zambia, khu vực khai thác mỏ và luyện kim loại, trong đó có cả chì.
Thành phố Haina ở Cộng hoà Dominica, nơi tái chế và nấu chảy pin, người dân nơi đây có nồng độ chì trong cơ thể rất cao 5. Thành phố Ranipet ở Ấn Độ, nơi hơn ba triệu người bị ảnh hưởng bởi chất thải từ các xưởng thuộc da. Thành phố Chernobyl ở Ukraine, một khu vực nổi tiếng bởi thảm hoạ phóng xạ 20 năm trước. Thành phố Mayluu-Suu ở Kyrgyzstan.
Thành phố La Oroya ở Peru 9. Thành phố Norilsk ở Nga. Thành phố Rudnaya ở Nga. n 11 Ô nhiễm môi trường ở những thành phố này gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ người dân và gia tăng nạn nghèo đói.
Những nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất của ô nhiễm môi trường là nơi con người sinh sống có tuổi thọ thấp nhất, trẻ sơ sinh bị khuyết tật, tỉ lệ hen trẻ em trên 90% và chậm phát triển trí tuệ. Nghiên cứu do cơ quan của Liên hiệp quốc tiến hành cho thấy khoảng 20% trường hợp chết sớm trên toàn thế giới là do các nhân tố ô nhiễm môi trường gây nên. Tại Chernobyl, báo cáo ước tính 5,5 triệu người vẫn bị đe doạ bởi vật liệu phóng xạ tiếp tục thấm vào mạch nước ngầm và đất cách đây 20 năm sau thảm hoạ nổ nhà máy điện hạt nhân. Người dân ở Lâm Phần, trung tâm tỉnh Sơn Tây, nơi chuyên khai thác than của Trung Quốc, thường bị viêm phế quản, viêm phổi, ung thư phổi do chất lượng không khí kém.000 người ở Dzherzhinsk (thuộc Nga), một khu vực sản xuất vũ khí hoá học trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, tuổi thọ chỉ bằng một nửa so với dân của các nước giàu nhất.
Tuổi thọ của đàn ông ở Dzherzhinsk là 47 và của phụ nữ là 42. Theo cảnh báo của Viện Blacksmith, ngoài 10 thành phố trên bị coi là ô nhiễm nhất thế giới, còn có 25 thành phố khác trên toàn cầu cần sớm triển khai nhanh các hoạt động bảo vệ môi trường.