Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lầu A Chinh thực hiện trong bối cảnh khu vực nông thôn miền núi Việt Nam, cụ thể là xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, đang đối mặt với nhiều nguy cơ suy thoái môi trường sống do hạ tầng còn lạc hậu và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những tập quán sinh hoạt, canh tác cũ của đồng bào các dân tộc thiểu số. Tác giả chỉ ra rằng nhận thức về bảo vệ môi trường của người dân trên địa bàn còn nhiều hạn chế, dẫn tới các hành vi tự phát: gia súc chăn thả rong hoặc nuôi nhốt trực tiếp dưới gầm sàn nhà ở làm bốc mùi hôi thối và phát tán mầm bệnh; chất thải chăn nuôi bị mưa lũ rửa trôi làm ô nhiễm nguồn nước mặt; việc phóng uế bừa bãi hoặc sử dụng hố xí tạm bợ phát sinh ruồi muỗi; hoạt động sử dụng phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật thiếu an toàn (rửa bình bơm, đổ dung dịch tồn dư trực tiếp ra nguồn nước, vứt bỏ bao bì hóa chất độc hại bừa bãi tại nương rẫy); rác thải sinh hoạt không được thu gom mà vứt tự do xuống các khe suối. Ngoài ra, tập quán phát rừng làm nương rẫy độc canh trên đất dốc làm suy giảm diện tích rừng phòng hộ, gây xói mòn, sạt lở và làm suy thoái tài nguyên đất.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định rõ ràng gồm 3 nội dung:

  1. Tìm hiểu về một số thói quen của các dân tộc trên địa bàn xã gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.
  2. Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Chiềng Lao - huyện Mường La - tỉnh Sơn La.
  3. Đánh giá, đề xuất một số giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường tại địa phương.

Về nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu, đề tài đặt ra các tiêu chí: phỏng vấn đại diện các tầng lớp nhân dân, độ tuổi, ngành nghề tại 25/25 thôn bản; thu thập đầy đủ tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; số liệu sơ cấp điều tra qua bảng hỏi phải bảo đảm tính khách quan, trung thực; các đề xuất giải pháp kỹ thuật và quản lý môi trường phải bám sát điều kiện thực tế của địa phương và có tính khả thi trong áp dụng.

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng môi trường nông thôn trên địa bàn xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La (khảo sát trực tiếp tại 25 thôn bản và làm việc tại Ủy ban nhân dân xã).
    • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2014 - 2015; đợt điều tra thực địa, phỏng vấn và lấy mẫu phân tích được thực hiện từ ngày 10 tháng 01 năm 2015 đến ngày 10 tháng 04 năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về cơ sở lý luận và pháp lý, nghiên cứu vận dụng các định nghĩa và khung pháp lý theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 của Việt Nam, bao gồm các khái niệm: môi trường, hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, ô nhiễm môi trường. Khóa luận kế thừa quan điểm lý luận của Lê Văn Khoa và cộng sự (2003) về đánh giá chất lượng môi trường như một thước đo phản ánh mức độ phù hợp của môi trường đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, tác giả tổng hợp các báo cáo về biến đổi khí hậu toàn cầu của Ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC), dữ liệu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) về suy thoái đất, cùng số liệu tổng quan của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tình hình ô nhiễm chất thải chăn nuôi, dư lượng phân bón vô cơ (đạm, lân chứa Flo) và hóa chất bảo vệ thực vật tại khu vực nông thôn Việt Nam.

Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp cụ thể sau:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập các tài liệu, văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo thống kê tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 của Ủy ban nhân dân xã Chiềng Lao, tài liệu lưu trữ của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mường La, bản đồ lập địa tỉnh Sơn La và các nghiên cứu khoa học chuyên ngành.
  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Sử dụng bảng câu hỏi cấu trúc để phỏng vấn trực tiếp đại diện các hộ gia đình và cá nhân. Khảo sát được thực hiện trên toàn bộ 25/25 thôn bản thuộc xã Chiềng Lao, mỗi thôn bản điều tra ngẫu nhiên 5 hộ gia đình, thu được tổng cộng 125 phiếu điều tra hợp lệ (trong đó phân tích chuyên sâu tập quán chăn nuôi đối với 121 hộ dân tộc Thái và 20 hộ dân tộc Mông).
  • Phương pháp quan sát đánh giá: Quan sát thực địa, ghi nhận hiện trạng cảnh quan tại các điểm nóng môi trường (khu vực canh tác nương rẫy, chuồng trại gầm sàn, điểm tập trung nước tự chảy, rãnh thoát nước sinh hoạt) kết hợp chụp ảnh tư liệu và tham vấn ý kiến cộng đồng dân cư.
  • Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm: Lấy 3 mẫu nước đại diện gồm: nước ao (lấy cách mặt nước 25 cm, cách đáy bùn 100 cm), nước suối (lấy gộp tại 3 vị trí: bờ trái, bờ phải, giữa dòng) và nước giếng đào. Mẫu được bảo quản trong điều kiện quy chuẩn và phân tích tại phòng thí nghiệm. Quy trình xác định thông số ô nhiễm sử dụng hóa chất Axit Oxalic ($H_2C_2O_4$) 0,1N (pha 6,3 g/lít), dung dịch Kali pemanganat ($KMnO_4$) 0,1N (pha 3,1 g/lít) và axit $H_2SO_4$ đặc, đun sôi trong 10 phút để chuẩn độ xác định nhu cầu oxy hóa. Các chỉ số quan trắc gồm: pH, hàm lượng oxy hòa tan (DO), nhu cầu oxy hóa học (COD) và nhu cầu oxy sinh hóa (BOD).
  • Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Số liệu điều tra được tổng hợp, phân loại theo tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình và trình bày thông qua hệ thống bảng biểu, đồ thị thống kê.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự tương phản giữa tiềm năng cảnh quan thiên nhiên với thực trạng ô nhiễm môi trường sống do tập quán lạc hậu tại xã vùng cao Chiềng Lao. Phần này xác định 3 mục tiêu trọng tâm, 5 yêu cầu kỹ thuật trong thu thập số liệu, ý nghĩa khoa học trong việc rèn luyện phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn trong việc cung cấp cứ liệu khoa học để chính quyền địa phương định hướng công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường nông thôn.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết hệ thống cơ sở lý luận về môi trường nông thôn và các diễn biến môi trường quy mô thế giới và trong nước. Trên phạm vi toàn cầu, tác giả dẫn chứng các số liệu về biến đổi khí hậu (CO2 tăng gấp 4 lần so với năm 1950, nhiệt độ tăng 0,5°C trong 100 năm qua), suy giảm tầng ôzôn do hóa chất làm cạn kiệt tầng ôzôn (ODS), quá trình thoái hóa 305 triệu ha đất màu mỡ và khủng hoảng nước ngọt (nguồn nước con người tiếp cận trực tiếp chỉ chiếm 0,26% tổng lượng nước). Tại Việt Nam, tác giả phản ánh thực trạng độ che phủ rừng giảm xuống còn 19,7% diện tích tự nhiên, hơn 20.000 ha rừng tự nhiên bị chuyển đổi mục đích (tính đến năm 2012), sự suy giảm đa dạng sinh học với 200 loài chim và 120 loài thú tuyệt chủng trong 4 thập kỷ, ô nhiễm các lưu vực sông lớn (sông Cầu, Nhuệ - Đáy, Đồng Nai, hệ thống sông Tiền và sông Hậu), ô nhiễm chất thải chăn nuôi phát sinh hơn 73 triệu tấn/năm từ đàn gia súc 37,8 triệu con và 214 triệu gia cầm, cùng các vấn đề tồn dư phân bón đạm, lân (chứa 3% Flo) và thuốc bảo vệ thực vật.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu là hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Chiềng Lao trong giai đoạn 2014 - 2015. Khung phương pháp nghiên cứu được xây dựng gồm: điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi (quy mô 125 phiếu tại 25 thôn bản), thu thập tài liệu thống kê thứ cấp từ Ủy ban nhân dân xã Chiềng Lao và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mường La, phương pháp quan sát chụp ảnh hiện trường, phương pháp lấy mẫu nước ao, nước giếng, nước suối và quy trình chuẩn độ pemanganat trong phòng thí nghiệm để xác định 4 thông số chất lượng nước.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện các dữ liệu điều tra thực tế tại địa phương:

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Chiềng Lao nằm ở phía Tây Bắc huyện Mường La, có độ cao trung bình từ 500 - 700 m so với mực nước biển, đất sản xuất nông nghiệp phân bố chủ yếu ở độ cao 380 - 449,2 m. Địa hình bị chia cắt mạnh gồm 25% núi cao, 55% đồi bát úp và 20% thung lũng. Toàn xã có 3 nhóm đất chính: đất đỏ vàng trên đá biến chất (4.320 ha, chiếm 31,4%), đất nâu đỏ đá vôi (5.110 ha, chiếm 25,3%) và đất vàng nhạt trên đá cát (4.210 ha, chiếm 30,7%). Hồ chứa thủy điện Sơn La hình thành vùng lòng hồ ngập nước với diện tích 1.027,99 ha trên địa bàn xã. Về kinh tế - xã hội năm 2014: dân số toàn xã có 2.026 hộ với 9.530 nhân khẩu (4.270 người trong độ tuổi lao động); tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 2.090,9 ha (lúa ruộng 160,5 ha; lúa nương 222,6 ha; ngô xuân hè 1.100 ha; sắn 589 ha); tổng đàn gia súc gia cầm lớn gồm 1.500 con trâu, 1.299 con bò, 3.500 con lợn, 1.056 con dê, 102 con ngựa và 42.672 con gia cầm; nuôi trồng thủy sản có 38 lồng cá trên lòng hồ thủy điện; tổng thu ngân sách xã đạt 7,82 tỷ đồng, chi ngân sách 6,6 tỷ đồng; mạng lưới y tế có 1 trạm xá với 8 nhân viên và 3 giường bệnh; giáo dục có 165 giáo viên và 2.600 học sinh phân bổ ở 3 bậc học.
  • Những thói quen gây ảnh hưởng xấu đến môi trường: Tác giả khảo sát tập quán sản xuất và sinh hoạt của hai tộc người chủ yếu:
    • Canh tác nương rẫy: Đồng bào dân tộc Mông chủ yếu canh tác lúa nương, ngô, sắn trên các sườn dốc; tập quán du canh vài vụ làm đất bạc màu rồi bỏ hoang, dẫn đến tình trạng phát rừng tự nhiên, xâm lấn đất quy hoạch rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Việc sử dụng thuốc trừ sâu, trừ cỏ tại nương rẫy đầu nguồn rồi rửa bình bơm đổ trực tiếp xuống suối làm suy giảm chất lượng nguồn nước sinh hoạt.
    • Tập quán nuôi nhốt gia súc dưới gầm sàn của người Thái: Trong 121 hộ gia đình người Thái được phỏng vấn, có tới 68 hộ (chiếm 56,2%) duy trì thói quen nhốt trâu, bò, lợn dưới gầm sàn nhà ở; 38 hộ (31,4%) nhốt gia súc xung quanh nhà; chỉ có 15 hộ (12,4%) xây dựng chuồng trại riêng biệt cách xa nhà ở; tỷ lệ thả rông là 0%. Nguyên nhân bắt nguồn từ tập quán cổ truyền (trước đây đề phòng thú dữ, hiện nay lo ngại mất trộm gia súc) và tận dụng gầm sàn thoáng rộng, dẫn đến việc phân và nước tiểu thải tự do gây ô nhiễm không khí và phát sinh ruồi, muỗi truyền bệnh cho các thành viên trong gia đình.
    • Tập quán chăn thả của người Mông: Khảo sát tại 20 hộ người Mông cho thấy 15 hộ (75%) bố trí nơi nhốt gia súc xung quanh nhà, 4 hộ (20%) làm chuồng riêng và 1 hộ (5%) thả rông hoàn toàn; 0% nhốt dưới gầm sàn do đặc thù cư trú trong nhà đất 4 mái. Thói quen thả rông gia súc ban ngày để vật nuôi tự tìm kiếm thức ăn giúp tiết kiệm công lao động đi nương rẫy nhưng làm phân rơi vãi khắp ngõ xóm, bốc mùi khi nắng nóng và bị nước mưa cuốn trôi vào khe suối.
  • Hiện trạng các thành phần môi trường nông thôn:
    • Nguồn nước sinh hoạt: Kết quả điều tra 125 hộ cho thấy 111 hộ (88,8%) sử dụng nước tự chảy từ các khe núi dẫn về bể dùng chung; 12 hộ (9,6%) sử dụng nước giếng đào; 2 hộ (1,6%) sử dụng nước giếng khoan. Về đánh giá cảm quan: 88 hộ (70,4%) đánh giá nước bình thường; 28 hộ (22,4%) phản ánh nước bị đục sau các trận mưa to; 12 hộ (9,6%) sử dụng nguồn nước có biểu hiện nhiễm đá vôi. Bể nước tự chảy công cộng thường kiêm luôn vị trí tắm giặt, mổ thịt gia súc, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm nguồn nước cấp.
    • Chất lượng nước qua phân tích: Cả 3 mẫu nước (ao, giếng, suối) đều có các chỉ số hóa lý đạt tiêu chuẩn quy định: mẫu nước ao có pH = 8,05, DO = 6,84 mg/l, COD = 4,8 mg/l, BOD = 3,36 mg/l; mẫu nước giếng có pH = 7,87, DO = 2,18 mg/l, COD = 1,6 mg/l, BOD = 1,12 mg/l; mẫu nước suối có pH = 7,70, DO = 2,55 mg/l, COD = 1,2 mg/l, BOD = 0,84 mg/l.
    • Thoát nước thải và vệ sinh môi trường: Có tới 117/125 hộ (93,6%) hoàn toàn không có hệ thống cống thoát nước thải sinh hoạt; 7 hộ (5,6%) sử dụng rãnh thoát nước lộ thiên; chỉ có duy nhất 1 hộ (0,8%) tại khu xóm Trung Tâm sở hữu cống thải kiên cố có nắp đậy. Nước thải sinh hoạt và nước rửa chuồng trại thẩm thấu tự nhiên vào lòng đất hoặc chảy tràn tự do ra vườn và đường đi.
  • Đề xuất giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường: Tác giả giới thiệu hệ thống các giải pháp kỹ thuật sinh thái chi phí thấp, bao gồm: mô hình kinh tế sinh thái R-VAC (Rừng - Vườn - Ao - Chuồng) thích ứng địa hình đất dốc; ứng dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi gia súc, gia cầm; xây dựng bể biogas xử lý chất thải chăn nuôi tạo khí đốt đun nấu; mô hình bể lọc cát - sỏi xử lý nước ăn uống bị đục sau mưa; hệ thống bãi lọc ngầm trồng thực vật thủy sinh xử lý nước thải sinh hoạt hộ gia đình; quy trình ủ phân hữu cơ vi sinh (compost) từ rác thải sinh hoạt và phân gia súc; thiết kế nhà vệ sinh tự hoại 3 ngăn và nhà tiêu 2 ngăn hợp vệ sinh sử dụng tro hoai mục (không dùng nước).

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Khóa luận đúc kết những nét nổi bật về điều kiện tự nhiên, tiềm năng kinh tế và các nguy cơ ô nhiễm môi trường nông thôn tại xã Chiềng Lao. Tác giả kiến nghị Ủy ban nhân dân xã, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mường La cùng các ban ngành đoàn thể tăng cường công tác tuyên truyền, đưa tiêu chí vệ sinh môi trường vào quy ước, hương ước thôn bản; triển khai các chính sách hỗ trợ vốn vay để người dân di dời chuồng trại gia súc ra xa nhà ở, xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh và nhân rộng các mô hình xử lý chất thải sinh thái.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng hóa cụ thể hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Chiềng Lao thông qua hệ thống số liệu điều tra xã hội học và phân tích thực nghiệm:

Bảng tổng hợp hiện trạng chăn nuôi, sử dụng nước và thoát nước thải tại xã Chiềng Lao:

Hạng mục khảo sát Phân loại chỉ tiêu Số hộ ghi nhận Tỷ lệ (%)
Vị trí nhốt gia súc hộ người Thái (n = 121) Dưới sàn nhà ở 68 56,2%
Xung quanh khuôn viên nhà 38 31,4%
Chuồng riêng cách biệt nhà ở 15 12,4%
Thả rông hoàn toàn 0 0,0%
Vị trí nhốt gia súc hộ người Mông (n = 20) Xung quanh khuôn viên nhà 15 75,0%
Chuồng riêng biệt 4 20,0%
Thả rông hoàn toàn 1 5,0%
Dưới sàn nhà ở 0 0,0%
Nguồn nước ăn uống sinh hoạt (n = 125) Nước tự chảy khe núi 111 88,8%
Nước giếng đào 12 9,6%
Nước giếng khoan 2 1,6%
Cảm quan chất lượng nước ăn uống (n = 125) Bình thường 88 70,4%
Bị đục sau mưa to 28 22,4%
Nhiễm đá vôi 12 9,6%
Hệ thống thoát nước thải sinh hoạt (n = 125) Không có cống rãnh 117 93,6%
Cống rãnh lộ thiên 7 5,6%
Cống kiên cố có nắp đậy 1 0,8%

Bảng kết quả phân tích chất lượng các mẫu nước tại xã Chiềng Lao:

Chỉ số quan trắc Mẫu nước ao Mẫu nước giếng Mẫu nước suối Đánh giá sơ bộ
pH 8,05 7,87 7,70 Nằm trong ngưỡng cho phép
DO (mg/l) 6,84 2,18 2,55 Đạt ngưỡng bình thường
COD (mg/l) 4,80 1,60 1,20 Nằm trong giới hạn cho phép
BOD (mg/l) 3,36 1,12 0,84 Nằm trong giới hạn cho phép

Về mặt giải pháp, tác giả đã đề xuất một danh mục công nghệ sinh thái thích ứng cho địa bàn miền núi gồm: mô hình kinh tế R-VAC hạn chế rửa trôi đất dốc; công nghệ đệm lót sinh học và bể biogas xử lý chất thải chăn nuôi tạo năng lượng đun nấu; mô hình bãi lọc ngầm bằng thực vật thủy sinh xử lý nước thải sinh hoạt; quy trình ủ compost phân gia súc; mô hình lọc nước thủ công khử độ đục cho các hộ dùng nước tự chảy sau mưa lũ; mô hình nhà tiêu tự hoại 3 ngăn và nhà tiêu 2 ngăn sử dụng tro hoai mục.

Đóng góp tự nêu của khóa luận:

  • Cung cấp bức tranh toàn diện, có số liệu định lượng về mối liên hệ mật thiết giữa tập quán văn hóa tộc người (người Thái và người Mông) với các vấn đề phát sinh chất thải tại địa phương.
  • Cung cấp nguồn tài liệu thực tế cho Ủy ban nhân dân xã Chiềng Lao và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mường La trong việc đánh giá tiêu chí môi trường trong chương trình xây dựng nông thôn mới.
  • Vận dụng các kiến thức chuyên ngành Khoa học môi trường vào giải quyết các bài toán hạ tầng kỹ thuật vệ sinh môi trường quy mô nông hộ miền núi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số điểm hạn chế do tác giả tự xác định và giới hạn theo phạm vi nghiên cứu:

  • Dung lượng mẫu phân tích phòng thí nghiệm còn rất hạn chế (chỉ lấy 3 mẫu nước đại diện gồm 1 mẫu ao, 1 mẫu giếng, 1 mẫu suối) và mới chỉ dừng lại ở 4 thông số hóa lý cơ bản (pH, DO, COD, BOD); chưa kiểm nghiệm các chỉ tiêu vi sinh vật (Coliform, E. coli) vốn là nguy cơ hàng đầu từ chất thải chăn nuôi và nhà tiêu tạm bợ.
  • Thời gian nghiên cứu thực địa chỉ kéo dài 3 tháng (từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2015), tập trung vào mùa khô nên chưa quan trắc được mức độ ô nhiễm do nước mưa rửa trôi vào mùa mưa lũ (từ tháng 6 đến tháng 8).
  • Các mô hình kỹ thuật sinh thái (R-VAC, biogas, đệm lót sinh học, bãi lọc ngầm) mới dừng ở mức đề xuất nguyên lý cấu tạo và sơ đồ quy trình, chưa triển khai mô hình thử nghiệm thực tế tại địa phương để tính toán hiệu quả kinh tế và mức độ cắt giảm chất ô nhiễm.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng số lượng và vị trí lấy mẫu quan trắc nước mặt, nước dưới đất theo các mùa trong năm; bổ sung xét nghiệm vi sinh và dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật tại các khe suối đầu nguồn.
  • Xây dựng mô hình thí điểm xử lý chất thải chăn nuôi bằng đệm lót sinh học và bãi lọc ngầm quy mô hộ gia đình tại các bản người Thái và người Mông, tiến hành quan trắc các thông số môi trường trước và sau can thiệp để hoàn thiện quy trình kỹ thuật chuyển giao cho người dân.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học môi trường, Quản lý tài nguyên và môi trường, Phát triển nông thôn: Có thể tham khảo phương pháp tiếp cận nghiên cứu môi trường gắn liền với đặc thù nhân học văn hóa tộc người; cách thức xây dựng bộ câu hỏi điều tra nông thôn miền núi và quy trình phân tích COD bằng phương pháp chuẩn độ pemanganat.
  • Cán bộ quản lý môi trường cấp xã, huyện: Các số liệu thống kê về tỷ lệ chuồng trại gầm sàn, hiện trạng sử dụng nước tự chảy và tỷ lệ thiếu thốn cống rãnh thoát nước là tài liệu cơ sở để Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mường La, UBND xã Chiềng Lao xây dựng kế hoạch hành động bảo vệ môi trường, phân bổ kinh phí hỗ trợ hạ tầng vệ sinh nông thôn.
  • Các dự án phát triển cộng đồng và xây dựng nông thôn mới: Có thể khai thác các thiết kế sơ đồ mô hình công nghệ chi phí thấp (bể biogas, đệm lót sinh học, nhà tiêu 2 ngăn dùng tro khô, bãi lọc ngầm trồng cây thủy sinh) để áp dụng vào các chương trình cải thiện vệ sinh môi trường tại các thôn bản vùng sâu, vùng xa có địa hình tương tự ở vùng Tây Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Khảo sát thực địa ghi nhận bao nhiêu phần trăm hộ người Thái còn nuôi nhốt gia súc dưới gầm sàn và nguyên nhân chính là gì?
Kết quả phỏng vấn 121 hộ gia đình người Thái cho thấy có 68 hộ (chiếm 56,2%) vẫn nuôi nhốt gia súc dưới gầm sàn nhà ở. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ thói quen lâu đời: trước đây nhằm tránh thú dữ tấn công gia súc, hiện nay do người dân lo sợ bị mất trộm gia súc vào ban đêm, đồng thời tận dụng không gian gầm sàn thoáng rộng để làm nơi nhốt vật nuôi.

2. Người dân xã Chiềng Lao chủ yếu dùng nguồn nước nào để ăn uống và chất lượng nguồn nước này ra sao?
Nguồn nước ăn uống chính của người dân là nước tự chảy từ các khe núi dẫn về các bể dùng chung, với 111/125 hộ gia đình sử dụng (chiếm 88,8%). Về mặt cảm quan, có 70,4% số hộ đánh giá nước bình thường, 22,4% phản ánh nước bị đục sau các trận mưa to và 9,6% số hộ sử dụng nguồn nước có biểu hiện nhiễm đá vôi. Kết quả phân tích hóa lý 3 mẫu nước (ao, giếng, suối) cho thấy các chỉ số pH, DO, COD, BOD đều nằm trong giới hạn cho phép.

3. Tỷ lệ các hộ gia đình có hệ thống cống thoát nước thải sinh hoạt tại xã Chiềng Lao như thế nào?
Phần lớn các hộ gia đình trên địa bàn xã không có hạ tầng thoát nước thải. Số liệu khảo sát 125 hộ cho thấy có 117 hộ (chiếm 93,6%) hoàn toàn không có cống thoát nước; 7 hộ (5,6%) sử dụng cống rãnh lộ thiên; chỉ có 1 hộ duy nhất (0,8%) tại xóm Trung Tâm sở hữu cống thải kiên cố có nắp đậy.

4. Tập quán chăn nuôi gia súc của đồng bào dân tộc Mông tại xã Chiềng Lao có điểm gì khác biệt so với đồng bào dân tộc Thái?
Khác với người Thái ở nhà sàn và có tập quán nhốt gia súc dưới gầm sàn (56,2%), người Mông cư trú trong nhà đất 4 mái nên 0% nhốt gia súc dưới sàn. Thay vào đó, 75% số hộ người Mông bố trí nơi nhốt gia súc xung quanh nhà và 5% thả rông hoàn toàn. Quan điểm của người Mông là thả rông ban ngày để vật nuôi tự kiếm ăn, giúp gia đình tiết kiệm thời gian chăm sóc để tập trung lao động sản xuất trên nương rẫy.

5. Tác giả đã đề xuất những giải pháp kỹ thuật cụ thể nào để giải quyết vấn đề chất thải chăn nuôi và nước thải sinh hoạt?
Tác giả đề xuất các giải pháp kỹ thuật sinh thái bao gồm: ứng dụng đệm lót sinh học trong chuồng trại chăn nuôi; xây dựng bể biogas xử lý phân động vật tạo khí đốt gia đình; xây dựng bãi lọc ngầm trồng thực vật thủy sinh để xử lý nước thải sinh hoạt; áp dụng quy trình ủ compost phân gia súc và rác thải hữu cơ; xây dựng bể lọc cát - sỏi thủ công xử lý nước ăn uống bị đục sau mưa lũ; xây dựng mô hình nhà tiêu tự hoại 3 ngăn hoặc nhà tiêu 2 ngăn hợp vệ sinh sử dụng tro thay nước.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lầu A Chinh đã phản ánh chi tiết hiện trạng môi trường nông thôn miền núi tại xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La thông qua việc kết hợp giữa điều tra xã hội học 125 hộ dân tại 25 thôn bản với phân tích thực nghiệm các mẫu nước mặt và nước ngầm. Công trình làm nổi bật mối liên hệ trực tiếp giữa tập quán sinh hoạt, chăn nuôi của đồng bào dân tộc thiểu số (như nhốt gia súc dưới gầm sàn, thả rông vật nuôi, canh tác nương rẫy dốc) với tình trạng ô nhiễm môi trường sống cục bộ và sự thiếu hụt hạ tầng cống rãnh thoát nước thải. Trên cơ sở đó, khóa luận đã đề xuất hệ thống giải pháp công nghệ sinh thái thích ứng (R-VAC, bể biogas, đệm lót sinh học, bãi lọc ngầm thực vật thủy sinh, lọc nước thủ công) có giá trị thực tiễn đối với công tác quy hoạch và quản lý vệ sinh môi trường nông thôn vùng cao.